Showing posts with label VĂN HOÁ - GIÁO DỤC. Show all posts
Showing posts with label VĂN HOÁ - GIÁO DỤC. Show all posts

Saturday, December 15, 2012

Phong tục cho thần tài 'hưởng' nhũ hoa nữ nhân viên ở Hội An

Tín ngưỡng kỳ lạ này đã được những tiểu thương ở thành phố sầm uất đất Quảng Nam lưu truyền tới vài trăm năm nay.Cho thần tài “hưởng” nhũ hoa phụ nữ để cầu may bán đắt Cư dân khu vực đô thị cổ Hội An (Quảng Nam) trong quá trình hình thành và phát triển có nhiều phong tục độc đáo, riêng biệt và tạo nên dấu ấn đặc sắc so với những mảnh đất khác. Đặc biệt, những người buôn bán ở đây có rất nhiều “mẹo” và tín ngưỡng mang tính tâm linh cao.

Thế nhưng, có lẽ độc đáo nhất là phong tục áp tượng thần tài vào “nhũ hoa” của các nữ nhân viên bán hàng trước mỗi ngày làm việc mới. Trong một lần trò chuyện với Trần Bảo Ngọc, một nữ nhân viên trong cửa hàng quần áo thời trang trên đường Hai Bà Trưng (Hội An), tôi tình cờ nghe và thực sự bất ngờ khi biết sáng nào trước giờ làm việc, cô cũng áp phần mặt của tượng thần tài vốn được để ở bàn thờ nhỏ trong shop vào “nhũ hoa” của mình để cầu may. Tôi bật cười nhưng rồi vội kìm lại khi bắt gặp thái độ không vừa lòng của cô nhân viên. Cuộc trò chuyện càng đi sâu vào chi tiết, cái lệ này càng thu hút và hấp dẫn tôi hơn. Ngọc cho hay, cô cũng không biết cái phong tục kỳ lạ này có từ bao giờ, thế nhưng đa phần ở Hội An, hễ ai mở hàng, thuê nhân viên nữ bán hàng đều dặn người làm của mình tuân thủ cái lệ hàng sáng ấy. Đối với những cửa hàng nào có chủ nữ trực tiếp đứng bán thì khỏi cần phải nói. Sáng nào cũng vậy, sau khi hương khói trước và trong cửa hàng, cô chủ cũng cho ông thần tài “hưởng” một chút để bước vào một ngày làm việc mới may mắn và đắt khách. Cũng chẳng ai chứng thực được rằng, nếu không làm cái lệ ấy thì cửa hàng sẽ buôn bán ế ẩm. Thế nhưng, cứ đời này truyền cho đời sau, người buôn bán đi trước truyền lại cho người đi sau, thành ra một cái lệ phổ biến và hầu như ai làm kinh doanh cũng đều thông tỏ và “tín” lắm.

Thường thì buổi sáng, những nhân viên hay nữ quản lý đến cửa hàng phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc gọn gàng trước khi bước vào các công đoạn của phong tục này. Đầu tiên, người thực hiện phải đặt hương xin ngài (tức tượng thần tài) về chứng giám. Sau đó, nhẹ nhàng đưa ngài vào nơi vắng vẻ của shop, cô gái thực hiện cái lệ ấy. Nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng mỗi cử chỉ của cô gái phải diễn ra theo trình tự chứ không phải muốn gì làm nấy. Đầu tiên, cô nhân viên một tay cầm tượng ngài, quay mặt vào ngực mình, tay kia từ từ cởi cúc áo ra. Khi đã cởi xong áo thì áp mặt ngài vào ngực mình, di chuyển đều từ trái qua phải rồi ngược lại. Ba lần như thế là xong. Mọi việc diễn ra trong vòng chưa đầy 10 phút nhưng là phần quan trọng nhất của mỗi cửa hàng trong một ngày. Chia sẻ với chúng tôi, cô nhân viên Ngọc còn bảo: “Mới đầu vào làm, tụi em cũng không quen với cái phong tục ni nên thường xuyên bị bà chủ la. Nhưng dần dần mọi cái đều trở nên bình thường và tụi em coi như một phần công việc của mình trong ngày… Có thể, nhiều người cho rằng việc này là mê tín nhưng em nghĩ đôi lúc nó cũng tạo động lực để tụi em làm tốt hơn. Bắt đầu một ngày làm việc mới với tâm thế là sẽ gặp nhiều may mắn thì tâm lý cũng thoải mái hơn, công việc vì thế mà cũng hanh thông hơn”, nói rồi, Ngọc cười bẽn lẽn.Đi tìm những lý giải Để tìm hiểu phong tục kỳ lạ có một không hai này, chúng tôi tìm đến nhà cụ Phạm Thị Hương, nằm sâu trong một con hẻm nhỏ trên đường Trần Phú (Hội An). Cụ Hương năm nay đã hơn 86 tuổi. Tuổi đã cao, nhưng cụ Hương xem chừng vẫn khỏe mạnh và minh mẫn lắm. Cụ kể, trước đây cụ cũng từng buôn bán lớn trong khu phố cổ này nhưng do nhiều biến động của cuộc đời và tuổi tác, sau phải bỏ nghiệp kinh doanh lớn để bôn ba với những chú tò he đất bên bờ sông Hoài. Đến giờ, vợ chồng cô con gái út của cụ cũng làm ăn rất khấm khá với 3 cửa hàng kinh doanh trên phố cổ Hội An. Nghe chúng tôi hỏi về tục lệ đưa tượng thần tài vào ngực nữ nhân viên bán hàng, sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ, cụ Hương gật đầu quả quyết: “Đúng là có cái tục đó thiệt chú à. Nhưng có từ thời nào tôi không rõ. Đời bà tui cũng đã có rồi, rồi thì truyền lại cho mẹ tui, rồi đến tui. Có người bảo đây là tục của người Hoa vì trong văn hóa của họ ở Hội An theo tui được biết có những điều tương tự. Có người lại bảo cái tục ni là của người Nhật…. Nhưng cho dù có xuất xứ từ đâu, nó vẫn là một điều thiêng liêng, một nét văn hóa của những người buôn bán ở đây…”.

Cụ Hương còn bảo ngày trước, người ta thuê những cô gái còn trinh tiết đến bán hàng ở những cửa hàng lớn. Bởi theo quan niệm của những thương gia lớn thì thần tài rất “mê” gái (?), đặc biệt là những cô gái còn trinh tiết. Đến nỗi những nhà thuê không được những cô gái còn trinh tiết về làm thì phải nhờ, phải thuê một cô gái khác trong phố hoặc của nhà buôn bên cạnh để, mỗi sáng sang hiệu buôn của mình thực thi công việc cho thần tài “hưởng” nhũ hoa trước khi mở hàng. Không những thế, người được nhờ, được thuê phải hợp mạng, hợp tuổi với gia chủ và rất nhiều tiêu chí khác. “Xưa kia, đây là một tục lệ rất quan trọng và phức tạp của những người buôn bán ở khu vực này. Buôn càng lớn thì càng phải chú ý đến cái tục cho “ngài” hưởng hơi ngực gái mỗi sớm. Bây giờ, nhiều nhà buôn không còn kỳ công đi tìm con gái còn trinh tiết về làm. Tuy nhiên, vẫn còn một số người giữ đầy đủ các công đoạn khắt khe của cái lệ ấy”, cụ Hương vì nhai trầu bỏm bẻm vừa chia sẻ với chúng tôi như thế.

Theo kiến giải của tiến sĩ văn hóa Trần Tấn Vịnh, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Quảng Nam, thì phong tục này có xuất xứ từ văn hóa Mẹ của người Việt trên khắp đất nước này. Từ việc truyền, xưng tụng và thờ cúng những vị thần có pháp danh đầu tiên là “Bà” đến những cây cầu, những ngọn núi, những tên đất, tên làng có tên bắt đầu là “Bà” khác. Đó là một nét văn hóa thuần nhất và xuyên suốt, biểu hiện cho nền văn minh lúa nước, nền văn minh đậm chất Việt. Nó đề cao vai trò của sự sinh sản, sức sống và trọng trách ươm mầm, tạo ra sự sống của người phụ nữ. Giao thoa với các nền văn hóa khác ở Hội An như văn hóa Nhật Bản và Trung Hoa, việc để tượng thần tài vào ngực con gái trước một ngày buôn bán mới phải chăng cũng là một biểu hiện của ước mơ mọi thứ được sinh sôi nảy nở, ăn nên làm ra? Đó là một nét trong tín ngưỡng phồn thực đã kết hợp với việc làm ăn buôn bán của người phố cổ Hội An để tạo ra một nét văn hóa độc đáo ở mảnh đất cổ này.

Trong vẻ đẹp muôn màu của đất và người phố cổ Hội An, có những điều người ta bất ngờ nhưng thật ra có cội nguồn rất gần gũi với truyền thống, văn hóa Việt. Tục đặt tượng thần tài vào ngực con gái bán hàng ở các cửa hàng mỗi sáng sớm là một trong những cái lạ như vậy.

Nhưng chính điều này đã tạo nên sự thú vị riêng, làm ta thấy thêm yêu, thêm muốn khám phá vùng đất cổ kính này.

Tiễu-blog
Theo Gia Đình & Cuộc Sống

Tuesday, December 11, 2012

Vẻ đẹp của những loài hoa tượng trưng cho năm mới

Châu Á đón năm mới sau Tết âm lịch, châu Âu đón năm mới qua lễ Giáng sinh. Châu Á thích trưng hoa đào. Châu Âu chuộng hoa trạng nguyên. Mỗi đất nước, mỗi nền văn hóa có cách riêng thưởng hoa trong dịp đầu năm mới.

Cùng đón Tết âm lịch với Việt Nam có những nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… Trung Quốc khá tương đồng với Việt Nam, vào dịp năm mới, người dân Trung Quốc cũng chuộng những loại hoa tương tự như ở ta: hoa đào tượng trưng cho may mắn, cây quất và hoa thủy tiên tượng trưng cho sự giàu có, hoa hướng dương tượng trưng cho một năm mới tốt đẹp đang chờ đợi phía trước.

Hoa đào tượng trưng cho may mắn
Hoa thủy tiên tượng trưng cho sự giàu có
Hoa hướng dương tượng trưng cho một năm mới tốt đẹp đang chờ đợi phía trước
Người Nhật cũng coi hoa đào, hoa mai là hai loài hoa biểu tượng cho năm mới, ngoài ra, người Nhật còn có thêm biểu tượng hoa anh đào nhưng mùa đông ở Nhật khá khắc nghiệt, nhiệt độ xuống rất thấp, tuyết rơi và nhiều khi còn có bão tuyết, vì vậy, hoa thường không nở được hoặc nếu nở trong điều kiện thời tiết như vậy thì cũng không đẹp hoặc chóng tàn lụi.
Vì vậy, người Nhật phải tìm tới một cứu cánh khác, đó là làm hoa giả, một loài hoa có tên Mochibana. Người ta dùng bột gạo nấu lên, phần để nguyên màu trắng, phần nhuộm hồng và bọc thành từng nụ tròn nhỏ dọc theo những cành liễu khô để bày trong nhà, “giả vờ” coi đó là những nụ đào chưa nở được hái mang về.

Hoa anh đào đặc trưng của mùa xuân nước Nhật
Hoa Mochibana làm bằng bột gạo
Ở các nước phương Tây, Giáng sinh là dịp quan trọng nhất, trong dịp này, người ta thường chuộng các loại hoa như hoa trạng nguyên, hoa xương rồng, hoa nhựa ruồi, và những dây thường xuân, dây tầm gửi…
Người dân vùng Bắc Mỹ thích hoa trạng nguyên và hoa lan. Hoa trạng nguyên tượng trưng cho sự trong sáng. Ngoài ra, những cánh hoa đỏ tươi xòe nở đúng dịp Giáng sinh khiến hoa trạng nguyên được ưa chuộng hơn hẳn.
Có rất nhiều loại xương rồng cũng nở hoa vào đúng dịp Giáng sinh, những giỏ xương rồng lắc lư treo trong nhà với nhiều cành nhánh và những khóm hoa tươi sáng là một lựa chọn không tồi.

Ngoài ra, người dân vùng Bắc Mỹ còn rất thích cây hoa tuyết mà ở Châu Á hay gọi là cây bạch tuyết mai. Cây hoa này có nguồn gốc từ Châu Á nhưng nhanh chóng được phổ biến ở vùng bắc Mỹ. Những bông hoa trắng nhỏ thực sự khiến đem lại không khí Giáng sinh cho các gia đình.
Ở Châu Âu, người dân Châu Âu chuộng cây hoa nhựa ruồi, dây thường xuân và dây tầm gửi. Hoa nhựa ruồi là loài hoa gắn liền với Giáng sinh ở Châu Âu. Những vòng hoa nhựa ruồi thường được treo trên cửa báo hiệu Giáng sinh đã về, những nhánh hoa nhỏ thường được dùng để gắn lên bánh Giáng sinh.

Dây thường xuân tượng trưng cho sự bất diệt và sự hồi sinh. Lá thường xuân gắn liền với truyền thuyết về những vị thần Hy Lạp, La Mã… Trong đó, các vị thần hồi sinh nhờ vào lá thường xuân.


Cây tầm gửi gắn với một phong tục đã có từ lâu mà ngày nay người ta không hiểu tại sao lại có. Nếu muốn hôn ai đó trong dịp Giáng sinh, người ta sẽ hôn dưới một nhánh tầm gửi.

Pi Uy Tổng hợp
Theodantri.com.vn

Sunday, December 9, 2012

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương : di sản phi vật thể của nhân loại

Hôm 06/12/2012 tổ chức Unesco Liên Hiệp Quốc đã chính thức công bố Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tại Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây là di sản đầu tiên thuộc loại hình tín ngưỡng của Việt Nam được Unesco công nhận, nhưng riêng đối với Phú Thọ thì là di sản phi vật thể thứ hai, sau khi hát xoan được vinh danh vào năm 2011.

Thiên Sứ Lạc Việt: 
"Một giá trị văn hóa truyền thông Việt được quốc tế công nhận. Đó là tin vui. Tuy nhiên, đối với tôi thì nó chỉ giới hạn đến đấy.
Điều quan ngại của tôi là:
Người ta sẽ tiếp tục trình bảy bản chất thời đại Hùng Vương như thế nào đối với quốc tế.
Thời đại Hùng Vương – thời đại mở đầu cho Việt sử gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử, hay bản thân vua Hùng chỉ là một “pò khun” – nói theo Trần Quốc Vượng – “thủ lĩnh của liên minh 15 bộ lạc” với những người dân “ở trần đóng khố” và địa bàn sinh hoạt chỉ “vỏn vẹn ở đồng bằng Bắc Bộ”?
Do đó – với cá nhân tôi – thì việc quốc tế công nhận tín ngưỡng thờ vua Hùng chỉ là viên gạch đầu tiên. Vấn đề tiếp theo là: Thời đại Hùng Vương được hiểu như thế nào với cộng đồng quốc tế.
Đấy mới là điều quan trọng không chỉ với cá nhân tôi, mà với cả lịch sử văn hóa dân tộc, trong hiện tại và cả tương lai.
Cá nhân tôi, sẽ chính thức đề nghị cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc tổ chức một cuộc hội thảo khoa học quốc tế về Thời Đại Hùng Vương với sự góp mặt của những học giả đầu ngành ở Việt Nam và quốc tế, một cách minh bạch và sòng phẳng – nhân danh khoa học thật sự. Cá nhân tôi sẽ tham gia hội thảo này với những chi phí tự túc. Nếu tôi được thừa nhận là đúng thì món quà cũng của cá nhân tôi tặng cho cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc sẽ là “Thuyết Âm Dương Ngũ hành là lý thuyết thống nhất vũ trụ”, ngay trong một cuộc hội thảo tiếp theo và trong hội thảo này, những nhà khoa học Việt Nam sẽ do cá nhân tôi mời.
Tôi hy vọng rằng: Những nhà lãnh đạo quốc tế và trong nước có trách nhiệm về văn hóa sẽ quan tâm đến đề nghị của tôi." 

(thiensulacviet.com)

Như vậy tính đến nay Việt Nam đã có được 7 di sản văn hóa phi vật thể. Đó là nhạc cung đình (2003), cồng chiêng Tây nguyên (2005), quan họ (2009), ca trù (2009), Thánh Gióng (2010), hát xoan Phú Thọ (2011) và năm 2012 là lễ hội Hùng Vương tại tỉnh Phú Thọ.

Unesco nhận xét, hàng năm có hàng triệu người hành hương đến đền các vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh tỉnh Phú Thọ, để thờ kính tổ tiên và cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, mùa màng được sung túc, cầu may mắn và sức khỏe. Dân các làng xung quanh mặc trang phục truyền thống, và cộng đồng chuẩn bị lễ vật dâng lên các vua Hùng như bánh chưng, bánh dày. Lễ hội đền Hùng còn có lễ rước kiệu, dâng hương, đánh trống đồng, các trò chơi dân gian đặc sắc…

Theo Unesco, truyền thống giỗ tổ Hùng Vương phản ánh sự liên đới về tinh thần và là dịp để nhìn nhận cội nguồn dân tộc, bản sắc văn hóa và đạo đức của người Việt.

Được biết năm nay có 35 hồ sơ ứng viên di sản phi vật thể của nhân loại, và Unesco đã công nhận 27 hồ sơ. Tính đến nay, trên toàn thế giới có 232 di sản văn hóa phi vật thể, tại 86 quốc gia.

TTđTD  (tổng hợp) - Theo Thụy My (rfi), Thiensulacviet

Friday, December 7, 2012

HÁT HAY LÀ NGHE


Nhà sử học Dương Trung Quốc đã từng góp ý với Quốc hội: Chúng ta nên hát quốc ca thay cho máy hát mỗi khi chào cờ, khai mạc kì họp. Việc góp ý rất hay này nhưng chẳng thấy thực hiện...
Ấy là chuyện ở cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia, còn ở các cơ quan cấp thấp thì sao? Cũng vậy thôi... Nhớ một dạo, Chính phủ có Nghị định hướng dẫn việc thưa gửi: chỉ thưa gửi một người có chức vụ cao nhất để giảm bớt thì giờ... Thế nhưng do thói quen, người ta cũng không thực hiện.



Việc hát quốc ca thay cho nghe quốc ca trước mỗi kì khai mạc lễ hội hay ngày thứ hai làm việc đầu tuần là không thể thiếu được. Chúng ta không thể "công nghiệp hoá" tình cảm, tâm linh, lòng tự hào dân tộc bằng máy hát được. Cha ông ta có dạy: "Gieo hành động sẽ gặp thói quen, gieo thói quen sẽ gặp tính cách". Không hát quốc ca Việt Nam, liệu ta có còn nhớ quốc ca, còn nhớ "Việt Nam" không? Một chuyện "nhỏ" chúng ta không làm thì chuyện "lớn" làm sao làm nỗi?!.

Đã đến lúc, Chính phủ phải có Văn bản hướng dẫn về việc Hát quốc ca cũng giống như ra đường phải đội mũ bảo hiểm vậy.

Hoàng Lạc

Wednesday, December 5, 2012

Ông Bí thư mất chức vì chống tham nhũng


Ông Phạm Thanh Bình 
Khi tôi gọi điện, đặt vấn đề trò chuyện về việc Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ vừa thông báo dành 6 tỷ đồng cho cuộc thi sáng kiến phòng chống tham nhũng, ông Phạm Thanh Bình tuyên bố: "Tôi nói thì được, nhưng chỉ sợ cô phóng viên không dám đăng thôi".
Ông Phạm Thanh Bình, nguyên là Bí thư Đảng ủy phường Nghĩa Đô (Q. Cầu Giấy, Hà Nội), người từng bị mất chức vì chống tham nhũng.
Vì sao ông nói "chỉ sợ cô phóng viên không dám đăng"?
Vì tôi hiểu tham nhũng. Nếu nói thẳng về tham nhũng thì "nhạy cảm" lắm.
Cụ thể của việc "nhạy cảm" ấy là như thế nào?
Ở phường đó nhiều năm tồn tại tiêu cực tham nhũng đất đai. Những cán bộ có quyền chức bao che, chiếm đoạt đất đai, làm cho nhân dân bức xúc. Đơn từ gửi đi nhiều mà không được giải quyết, tồn tại nhiều năm. Năm 2005, tôi lên làm Bí thư Đảng ủy, tôi giải quyết triệt để vấn đề này. Khi chỉ đạo giải quyết thì động chạm đến cả đường dây tiêu cực, từ phường đến quận và cả cấp trên. Đang giải quyết thì tôi bị nghỉ chức, sau đó lại được phục chức.
Việc tìm ra bằng chứng để khẳng định một người là tham nhũng có dễ không?
Tôi nghĩ không dễ đâu. Vì tiêu cực tham nhũng tinh vi và xảo quyệt lắm! Nó lại có sự liên kết trong đường dây bao che từ trên xuống dưới nên rất khó. Chỉ khi người đứng đầu mà kiên quyết chống tiêu cực tham nhũng, khi đã nhận được thông tin thì kiên quyết chỉ đạo, xác minh, thì việc tìm ra bằng chứng là có thể.

Súng nổ rất to nhưng chẳng ai bị thương
Ngày 28-11, Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ đã phát động cuộc thi sáng kiến phòng chống tham nhũng với giá trị giải thưởng lên tới 6 tỷ đồng. Ông có cho rằng, đó là mấu chốt để phòng chống tham nhũng?
Không phải là luật phòng chống của chúng ta thiếu hay chưa nghiêm khắc, mà cái cơ chế của ta chưa tốt. Cơ chế là cách thực hiện chưa tốt, xử lý chưa kiên quyết, chưa có hiệu quả. Tôi rất đồng ý với ý kiến của Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc khi cho rằng, kế hoạch chống tham nhũng của ta rất hoành tráng, súng nổ rất to, nhưng chẳng ai bị thương. Vì đạn bắn không có đầu.
Theo ông thì vì sao?
Vì thiếu giải pháp triệt để. Vì như tôi nói, không có biện pháp tốt, không kiên quyết thực hiện, xử lý triệt để... thì không làm được. Ngay trong Nghị quyết Trung ương 4 đề ra như thế, một bộ phận cán bộ đảng viên tiêu cực tham nhũng thì phải kiểm điểm, phê bình thẳng thắn nhưng cuối cùng có xử lý được ai đâu. Điều này làm cho người ta nghi ngờ, phải chăng tiêu cực tham nhũng còn lớn ở trong nội bộ của chúng ta? Lợi ích nhóm quá lớn nên không làm được?
Theo ông, phải làm thế nào?
Việc lãnh đạo phải kiên quyết hơn nữa, biện pháp để triển khai thực hiện kiên quyết hơn, nghiêm khắc hơn. Chứ tham nhũng hiện nay nó vẫn chưa bị triệt tiêu, nó vẫn cứ lẩn khuất đâu đó. Trên phải làm nghiêm thì dưới sẽ làm theo.
Nếu như ông nói thì hóa ra việc tham nhũng như hiện nay là do lãnh đạo chưa đủ nghiêm?
Đúng thế. Ví dụ như vụ Vinaline, Vinashin thì cuối cùng thì trách nhiệm của ai? Ai là người phải bị xử lý, đã xử lý được triệt để, nghiêm khắc chưa? Biện pháp đấu tranh phòng chống tham nhũng của chúng ta quá yếu, biện pháp không kiên quyết. Còn bao che, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn lớn, nên chưa tiêu diệt được.

Dân sợ chết oan, nên phải hối lộ
Có người nói, càng ở vị trí cao càng dễ tham nhũng. Khi đó, phòng chống tham nhũng lại càng khó?
Theo tôi thì tham nhũng, ở cấp bậc nào cũng có, từ trên xuống dưới. Nó mang tính phổ biến. Nên không chỉ công chức viên chức cấp thấp mà cả ở cấp cao, nếu có điều kiện thì họ vẫn cứ tham nhũng. Nó diễn ra ở xung quanh chúng ta rất ghê gớm.
Hệ quả nó sẽ là gì ạ?
Nó dẫn tới lòng tin của nhân dân bị khủng hoảng. Sự khủng hoảng niềm tin này sẽ còn kéo dài nếu chúng ta không kiên quyết xử lý. Giờ những người tham nhũng vẫn cứ nhởn nhơ không bị xử lý thì làm sao người ta tin được.
Liệu ông có nhìn tiêu cực quá không?
Tôi không phải là người tiêu cực. Tôi cho rằng đây là một điều rất thực tế và tôi tìm mọi cách để đấu tranh chống tham nhũng.
Giả sử có người hỏi: "Ông nói tham nhũng đang diễn ra có hệ thống, bằng chứng của ông đâu?", ông sẽ trả lời thế nào?
Đầy ra rồi đấy thôi. Vụ Vinaline, Vinashin, vụ buôn lậu xăng dầu hàng không... rồi vấn đề đang nóng hổi là quản lý nhà nước về ngân hàng. Có điều gì khuất tất ở đây? Đấy, tham nhũng nó là đấy chứ đâu.
Lúc nãy ông có nói tham nhũng ở cấp thấp cũng tràn lan?
Đúng là như thế. Tất cả các khía cạnh của công việc, người ta đều có thể tham nhũng. Giả sử như đến chứng nhận một giấy tờ gì đó ở cơ quan nhà nước cấp xã phường thôi, nếu không quen biết, không hối lộ, thì có biết bao nhiêu thứ có thể bị hạch sách. Đến viện chữa bệnh, nếu không có phong bì thì có biết bao nhiêu là khó khăn. Thậm chí có bác sĩ, y tá còn vòi vĩnh tiền nong. Dân sợ chết oan, nên phải hối lộ. Hay như việc cấp sổ đỏ. Đất nông nghiệp tự nhiên đi cấp sổ đỏ, biến đất nông nghiệp thành đất ở để lấy tiền đút túi.

Đừng về hưu mới dám nói
Khi còn đương chức, ông có dám nói mạnh, làm mạnh không?
Đấu tranh với tiêu cực, với cái xấu, tôi coi đó là nhiệm vụ của mình. Đúng là có những người khi còn tại vị thì không dám nói, nhưng khi nghỉ hưu rồi mới dám phát biểu, dám phanh phui. Khi đó thì hiệu quả sẽ không cao. Tôi đã từng đấu tranh với cấp trên của mình về những tiêu cực tham nhũng ở ngay trong cơ quan mình.
Ông không sợ?
Tôi không sợ mất chức mất quyền, cũng chẳng sợ bị trù dập. Vì thực tế thì tôi đã bị trù dập và cho nghỉ chức vụ rồi.
Khi còn đương chức, ông có cơ hội để tham nhũng không?
Khi tôi làm Bí thư Đảng ủy phường, có người đem đến tận nhà tôi những khoản tiền rất lớn để yêu cầu cho chức này chức kia. Cũng có những kẻ hy vọng mình làm ăn hợp tác với nó trong đất đai, chỉ cần mình không nói gì là cũng sẽ có một số tiền không nhỏ. Nhưng tôi không làm được điều đó.
Tôi tự hỏi ông có thích tiền không?
Tiền thì ai cũng quý. Nhưng nó là vô cùng. Nhưng tôi nghĩ "Ăn cơm cáy thì ngáy o o, ăn cơm thịt kho thì lo ngay ngáy". Tôi thích sống yên bình, để lại cho con cháu những điều tốt đẹp vì tôi luôn tin vào luật nhân quả.
Xin cảm ơn ông!

Theo Tô Hội
Kiến Thức
Nguồn: http://www.tienphong.vn/

Monday, December 3, 2012

TÂY BA LÔ đến với văn hoá Việt

Phần đông khách du lịch nước ngoài có nhu cầu nghỉ ngơi ở những nơi phong cảnh đẹp. Do đó, mặt trời, cát biển đối với họ cực kỳ quan trọng. Những thứ này ở ta, một nước nhiệt đới có nhiều bãi biển đẹp không thiếu. Hình ảnh lộng lẫy của Vịnh Hạ Long trong bộ phim Pháp có tên "Đông Dương" ít nhiều đã lôi cuốn họ...

Ngoài nhu cầu trên, họ cũng có nhu cầu cao hơn về văn hoá: tìm hiểu đất nước, con người Việt Nam... Nhu cầu này ngày càng tăng trong thế giới hội nhập và toàn cầu. Không ít du khách đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu văn hoá. Trong số này, chúng ta đang bỏ quên một loại "thượng khách" mà lâu nay ta gọi một cách giễu cợt và không mấy thân thiện là "Tây ba lô". Đa số họ đều rất đáng mến. Họ là những thanh niên phương tây có học, ít tiền muốn thăm và tìm hiểu về Việt Nam mà họ có cảm tình hoặc chán với lối sống vật hoá nơi quê họ... Họ bị anh phục vụ khách sạn, cô bán hàng, thậm chí bác xích lô... coi thường, chỉ vì ăn mặc giản dị, bình dân, thậm chí có lúc lôi thôi và chi tiêu thì dè sẻn. 

Chúng ta quên một điều: kinh doanh du lịch đâu chỉ có lợi nhuận vật chất trước mắt mà còn phải thu lãi tinh thần lâu dài, trong tương lai. Trong số họ có những sinh viên, những trí thức chưa có việc làm, những nhà hoạt động văn hoá, xã hội tích cực... Chỉ cần một lời nói chân tình và có thiện cảm của họ đối đất nước chúng ta ra thế giới bên ngoài, đó là quảng bá vô giá, không kể được so với lãi vài đô la của khách sộp mang lại!


Giáo sư Hữu Ngọc có kể: Một "Tây ba lô" người Luxembug 25 tuổi, tốt nghiệp ba bằng tiến sĩ ở Pháp chưa có việc làm, còn một tháng rưỡi trước khi đi Mỹ học, anh tranh thủ thăm Việt Nam với số tiền dành dụm ít ỏi. Anh mua một chiếc xe đạp cũ, đi dọc quốc lộ từ Bắc vào Nam, qua Tây nguyên, ngủ ở các làng ven đường, chụp ảnh và tìm hiểu về phong tục tập quán để viết về Việt Nam mà anh yêu quý.

Những khách du lịch như vậy thật là đáng quý và trân trọng! Những tổ chức và công ty du lịch nên tạo điều kiện và thu xếp cho họ những chiến đi gần và rẻ tiền về một chủ đề văn hoá nào đó (lễ hội, làng nghề, đình làng, di tích lịch sử, v.v...). Chỉ cần một thời gian ngắn họ có thể nắm được một số giá trị về triết lý, lịch sử, nghệ thuật, tâm linh Việt. Mong lắm thay!

Hoàng Lạc
Ảnh: Internet

Tuesday, November 27, 2012

Những bức ảnh thiên nhiên đẹp nhất năm 2012

Tác giả: Pierluigi Rizzato
1. Hạng mục Nghệ thuật trong Thiên nhiên: Bóng Hươu cao cổ

Gia đình hươu cao cổ siêng quá mọi người ạ, hội tụ đầy đủ các thành viên ngay từ sáng sớm để tìm thức ăn rồi. Bóng của chúng in trên nền sương mù buổi sớm trông mờ mờ ảo ảo như tranh thủy mặc ấy nhỉ? Tác giả cũng rất chịu khó dậy sớm để cho ra một shoot ảnh đẹp.

2. Hạng mục Sinh vật Nguy cấp: Chim hải âu Mày đen


Tác giả: Charles Bergman

Loài hải âu mày đen này hiện chỉ còn vài quần thể cư trú trên các đảo nhỏ, cùng sinh tồn trước tình trạng ô nhiễm. Tác giả cho rằng mình thật may mắn khi bắt gặp một khoảnh khắc âu yếm hiếm có của đôi chim hải âu quý hiếm này. Một hình ảnh gợi sự bình yên và lãng mạn vô cùng phải không nào?

3. Hạng mục Danh lam Thắng cảnh: Vườn quốc gia Yosemite

Tác giả: Sandy Follett

Mỗi mùa, vườn quốc gia Yosemite đều “hào phóng” cảnh đẹp cho các tay máy tha hồ tác nghiệp. Ở giữa thác Bridalveil và núi El Capitan, ngay cả khi trời mưa, một cầu vồng lớn tuyệt đẹp vẫn kịp xuất hiện để tô điểm cho quang cảnh. Cứ như một niềm hy vọng xuất hiện giữa bầu trời u ám ấy nhỉ?

4. Hạng mục Đời sống Thực vật: Gỗ thích Nhật Bản


Tác giả: Peter Lik

Ngay cả khi trời đang nắng, ngồi dưới bóng cây đại thụ này vẫn cho chúng ta một cảm giác mát mẻ lạ thường. Và khi trời chiều hắt những tia sáng cuối ngày qua tán lá, ta như thấy một bầu trời sao lấp lánh thật gần. Đó là khoảnh khắc máy ảnh kịp nhấp nháy, và ra đời một kiệt tác.

5. Hạng mục Sức mạnh của Thiên nhiên: Cháy rừng


Tác giả: David Bahr

Đây là trận cháy rừng tồi tệ nhất từng có ở bang Colorado. Giữa đêm, và ngay cả khi cách xa đám cháy cả một quả đồi nhưng tác giả vẫn có thể chiêm ngưỡng và ghi lại màu đỏ rực nóng bỏng từ những đốm lửa đằng xa. Trông khủng khiếp cứ như dung nham núi lửa các ấy nhỉ?

6. Hạng mục Thế giới Nhỏ bé: Chuyện của Ruồi và Rắn


Tác giả: Robin Moore

Để có được tấm ảnh cận cảnh nghệ thuật như thế này, tác giả chia sẻ rằng anh phải lăn lê bò trườn nhiều ngày ở một trong những khu rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới đấy. Anh còn kể rằng mình như “đứng tim” khi trong lúc tiếp cận chú rắn, một chú ruồi đã hồn nhiên chọn đầu rắn làm điểm đáp. Nhưng cũng nhờ thế mà tấm ảnh của anh trông độc đáo đấy chứ!

7. Hạng mục Con người giữa Thiên nhiên: Người lướt sóng


Tác giả: Lee Slabber

Bức ảnh đặc tả cú vặn mình bắn nước tuyệt đẹp giữa làn sóng của một tay lướt ván chuyên nghiệp. Chuyển động của làn sóng và bọt biển bắn tung tóe cứ như uốn theo cơ thể anh chàng ý! Từng góc ảnh đều cho thấy sự hòa hợp thân thiện của con người với thiên nhiên bao la, rộng lớn.

8. Hạng mục Vườn thú và Thủy cung: Hươu cao cổ Rothschild


Tác giả: Barbara von Hoffmann

Bức ảnh tình mẫu tử thắm thiết này được một nhiếp ảnh gia nghiệp dư ghi lại tại vườn thú Hogle ở thành phố Salt Lake. Thật là ấm áp khi chú hươu mẹ dụi đầu vào người đứa con yêu quý của mình, chỉ vừa tròn một tuần tuổi. Nhìn đôi mắt của hươu cao cổ mẹ mà xem, trông tình cảm chẳng khác gì con người chúng ta đâu.

9. Hạng mục Đời sống Hoang dã: Con moóc


Tác giả: Lance Carter

Loài sinh vật giống hải cẩu này thường không mấy thân thiện lắm với những loài khác. Chúng chỉ yêu quý gia đình của mình thôi! Vậy mà tác giả cũng có dịp may mắn chụp cận cảnh một chú moóc đực đang lim dim ngủ trên bãi biển đó. Nhìn không đến nỗi dữ dằn như lời kể mọi người nhỉ?

10. Hạng mục Chim chóc: Cò thìa Roseate


Tác giả: Michael Rosenbaum

Trong điều kiện sương mù dày đặc buổi sáng sớm, theo lời tác giả là đôi cò đang “đấu tay đôi” giành miếng ăn. Nhưng nhìn qua tấm ảnh đẹp lạ lùng này, thêm sắc hồng phấn cực kute, dễ thương của loài cò này thì chúng ta ắt hẳn sẽ lầm lẫn rằng chúng đang “mi” nhau đấy chứ.

11. Hạng mục Động vật Hài hước: Gấu con chơi ú à!


Tác giả: Andy Rouse
Chú gấu con thơ thẩn chơi bên bờ sông trong khi mẹ của chú đang “bận” đi săn cá hồi cho bữa trưa. Thế là tay máy của chúng ta nhanh chóng “chộp” lấy vài khoảnh khắc tự vui đùa của bé gấu kute này. Sao trông chú có vẻ cô đơn quá nhỉ?
Tường Vy
Ảnh: SS
Theo: tindachieu.com

Friday, November 9, 2012

VIỆT NAM LỚN HAY NHỎ?

Vạn Lý Trường Thành
Cách đây 10 năm, một tiến sĩ Việt Nam tốt nghiệp ở nước ngoài về viết trên một tạp chí trong nước rằng Việt Nam có quá nhiều cái nhỏ: sáng chế nhỏ, công trình nhỏ... Có thể ở một gốc độ nào đó, vị tiến sĩ nói đúng! Vì có thời gian ở nước ngoài, vị tiến sĩ thấy nước người ta cái gì cũng lớn: đường lớn, nhà lớn, trường đại học lớn, công viên lớn... Do đó, so sánh như vậy.


Những năm gần đây, cũng với kiểu tư duy hướng ngoại, chúng ta xây dựng những công trình văn hoá tầm cỡ "thế kỷ" như khu du lịch tâm linh Chùa Bái Đính, Khu du lịch văn hoá Đại Nam..., bên ngoài: to lớn, đồ sộ... Điều đó cũng cần (để theo kịp nước ngoài!) nhưng vẫn còn thiếu cái gì đó thiêng liêng vốn là nội tại của tộc việt: văn hoá và tâm linh. Những công trình trên chưa thể nói là "lớn" được!

Chùa Một Cột 
Ai dám nói rằng CHÙA MỘT CỘT nhỏ! Một kiến trúc độc đáo có một không hai: hàm chứa sức nặng của văn hoá Việt trên 5000 năm. TRỐNG ĐỒNG ai bảo rằng nó nhỏ! Một di sản huyền vĩ của tộc Việt - vừa khoa học vừa tâm linh - không ở đâu trên thế giới này có được! Vậy thì, Việt Nam có nhiều công trình xưa để lại không nhỏ. Những công trình này làm nên sức sống muôn đời của Việt tộc. Có lẽ thế, mà nước ta có thời được mang tên Đại Cồ Việt, Đại Việt.

Trống Đồng Việt Nam 
Chính vì điều này, ông cha ta đã nhắn nhủ với con cháu: "Trăm năm bia đá cũng mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ". Công trình thiên về vật thể sẽ chết theo thời gian. Công trình phi vật thể sẽ trường tồn sống mãi.

Hoàng Lạc
Ảnh: Internet

Monday, October 29, 2012

Vị trí của Việt Nam trong nền văn minh loài người

Vào khoảng 160 nghìn năm về trước loài người đã di cư từ Châu Phi ra khắp thế giới. Quá trình di cư là một quá trình có phản hồi, và đã có thể đã có nhiều làn sóng di cư. Sự di cư này bị khống chế chủ yếu bởi các điều kiện thời tiết và địa hình.
Hàng chục nghìn năm trước đây loài người chưa thể chống chọi được với cái rét và vượt qua được các vùng núi cao, biển sâu; chính vì thế mà con đường di cư của loài người phải đi vòng qua vùng núi cao băng phủ ở trung tâm lục địa Á-Âu (dãy núi Hymalia).
Thế giới có vẻ như được chia thành 2 phần. Phía nam có khí hậu ấm áp, có điều kiện sống tốt hơn nên cư dân ở đây thường có thiên hướng về tư duy hành động; trong khi ở phía bắc do khí hậu trở nên lạnh giá khắc nghiệt mà cư dân phương Bắc thường thiên về tư duy phê phán.
Các cư dân Châu Âu - "Phương Tây" được thừa hưởng tư duy phê phán "thuần nhất". Họ luôn nhìn nhận vào nguyên nhân của sự việc, và chính vì thế mà hình thái kiến trúc tôn giáo của họ luôn mang tính duy nhất.
Bản đồ xuất hiện của các sản phẩm nông nghiệp cách đây 7 nghìn năm cho thấy Việt Nam chính là trung tâm văn minh nông nghiệp của thế giới - và trên thực tế chỉ ở Việt Nam mới hội đủ các loại nông phẩm chính nói trên.
Những vùng đồng bằng có điều kiện khí hậu tốt, và nhất là những  "ngã ba đường" - ví dụ như vùng Trung Đông, Đông nam Á - là những nơi đắc địa. Ở đấy thường có sự giao lưu và phát triển sơm hơn nơi khác.
Việt Nam ở vào một vị trí đắc địa và đắc đạo, bởi đây là con "đường mòn" duy nhất mà loài người có thể di cư lên vùng trung tâm châu Á. Như vậy Việt Nam là chiếc cầu nối giữa hai hình thái văn hóa chính của loài người, đó là văn hóa thiên về tư duy phê phán và văn hóa thiên về tư duy hành động. Một sự kết hợp hài hòa giữa tư duy phê phán và hành động tạo ra lối tư duy Sáng Tạo là đặc trưng cho cư dân Việt Nam.
Các cư dân Châu Á, được thừa hưởng lối tư duy sáng tạo vì thế so với Tâu Âu, họ có xu hướng tìm sự khác biệt, chính vì thế mà hình thái cấu trúc tôn giáo của họ mang tính phân tầng.
Còn có một sự kết hợp nữa giữa tư duy hành động (thừa hưởng của các cư dân Châu Phi) với tư duy phê phán (thừa hưởng của các cư dân Châu Âu) là người Mỹ hiện nay. Các nhà nghiên cứu văn hóa thường cho rằng tư duy thực dụng thiên về hành động là nét đặc trưng của người Mỹ, trong khi tư duy thực tế thiên về sáng tạo là nét đặc trưng của người Việt Nam. Chính vì lối tư duy "gần nhau" này mà, hy vọng và trên thực tế, người Mỹ và người Việt có thể nhanh chóng tìm được tiếng nói chung.
Sóng Ngầm
Nguồn: VITINFO

Wednesday, October 24, 2012

Bốn “trọng bệnh” của nền giáo dục Việt Nam

Báo Lao Động có cuộc trao đổi với GS-TSKH Trần Ngọc Thêm - Chủ tịch Hội đồng KH – ĐT Đại học Quốc gia TPHCM, Uỷ viên Hội đồng Lý luận T.Ư - về nội dung trên.

GS vào thẳng vấn đề:

- Trước hết, về thực trạng giáo dục, tôi xin được nói thẳng thắn là hỏng ở các cấp học, trên khắp các bình diện, hỏng một cách căn bản và toàn diện. Chính vì thế nên Đảng, Nhà nước và tất cả người dân đều dễ dàng thống nhất với nhau về việc đổi mới giáo dục và đào tạo một cách căn bản và toàn diện như một nhu cầu cấp bách. Giáo dục VN theo tôi đang mắc 4 trọng bệnh: Bệnh thành tích, bệnh cào bằng, bệnh suy dinh dưỡng và bệnh gian dối.


Bệnh thành tích rất nặng ở khối phổ thông, giáo viên muốn lớp mình giỏi nên cho toàn điểm 9 - 10. Trường muốn thành tích cao, ngành cũng vậy. Cả nước chạy theo thành tích, lúc nào cũng muốn có nhiều trường đại học, có nhiều người tốt nghiệp. Điều này cho thấy người VN hiếu danh hơn hiếu học, tình trạng học giả, dạy giả, bằng thật rất nhiều, còn học thật mà không nhất thiết cần bằng thì rất ít.

Bệnh cào bằng dẫn đến tình trạng mở trường theo phong trào, tỉnh nào cũng có trường ĐH nhưng không có đủ giảng viên. Hiện đại hóa theo phong trào, trường nào cũng chuyển sang học chế tín chỉ, trong khi rất ít trường đáp ứng được những điều kiện tối thiểu để làm tín chỉ. Cào bằng đánh giá chất lượng, cái gì cũng làm nhưng không phân hóa rõ ràng chất lượng, kết quả. Quản lý khung học phí cũng cào bằng, dẫn đến tình trạng tất cả các cơ sở đào tạo đều thiếu kinh phí. Bệnh suy dinh dưỡng chính là cái gốc của vấn đề giáo dục. Cơ sở vật chất của các trường thiếu và lạc hậu. Lương giáo chức quá thấp, không đủ sống nên quá nửa số giáo viên không an tâm với nghề. Nhà nước đầu tư 20% tổng ngân sách cho giáo dục, nhưng số tiền này đi vào cơ sở hạ tầng gần hết, thành ra vẫn như muối bỏ biển.

Bệnh gian dối là hệ quả của tất cả ba bệnh trên. Bệnh thành tích là nguồn gốc đầu tiên dẫn đến gian dối. Các con số tốt nghiệp cao hằng năm là gian dối. Bệnh cào bằng dẫn đến gian dối. Có phong trào nhưng hữu danh vô thực, cái gì cũng có nhưng không có gì chất lượng cao. Bệnh suy dinh dưỡng càng sinh ra gian dối. Trường nào cũng tìm đủ mọi lý do cao cả để tăng các hệ đào tạo, tăng số lượng SV; báo cáo tỉ lệ số SV trên một giảng viên gian dối – tất cả thực chất cốt để thu học phí lấy tiền nuôi cán bộ, nuôi trường.

Từ 4 bệnh này sinh ra đủ mọi hậu quả tệ hại: Chất lượng giáo dục xuống cấp, đạo đức học đường xuống cấp, nguồn nhân lực do hệ thống giáo dục cung cấp cho xã hội thiếu tính sáng tạo, khả năng nghiên cứu hạn chế nên KHCN trì trệ; năng lực thực hành thấp.

Đã có nhiều chuyên gia chỉ ra bệnh của giáo dục VN. Đối với 4 trọng bệnh mà Giáo sư vừa chẩn, xin hỏi có cứu chữa được không, nếu có thì cần bốc thuốc thế nào?

- Trước hết là cần xác định lại mục tiêu, phải căn cứ vào hệ giá trị định hướng của con người VN trong giai đoạn toàn cầu hóa, công nghiệp hóa mà xác định mục tiêu. Để tránh bệnh thành tích thì mục tiêu trước hết của giáo dục chưa phải là số lượng, mà phải là chất lượng. Sản phẩm hàng hóa kém chất lượng còn dùng tạm được, chứ sản phẩm giáo dục mà kém chất lượng thì thà đóng cửa trường còn hơn, vì càng cho ra nhiều bao nhiêu thì càng gây nguy hại cho xã hội bấy nhiêu.

Liều thuốc giải pháp phải vừa đủ bao quát để không sa đà vào những chuyện vụn vặt, đồng thời phải vừa đủ cụ thể để đảm bảo triển khai đúng hướng. Theo tôi, nên tập trung vào 5 nhóm giải pháp, gồm: Tổ chức hệ thống giáo dục; xây dựng nhân lực làm giáo dục; tăng cường vật lực cho giáo dục; thay đổi cơ chế giáo dục và đảm bảo chất lượng của hoạt động giáo dục.

Để tránh cào bằng, tổ chức hệ thống giáo dục cần chú trọng không chỉ phân hệ, phân cấp mà còn phải phân tầng giáo dục, mỗi tầng mỗi hệ có mục tiêu khác nhau và do vậy, cách quản lý, cách đầu tư, mức độ tự chủ cho phép phải rất khác nhau. Chẳng hạn, việc học trước hết phải có mục tiêu, học làm người rồi sau mới là học tri thức và học phương pháp làm việc. Cho nên, các cấp học đầu tiên phải thật coi trọng việc dạy làm người. Thầy cô mà chạy theo thành tích thì học trò sẽ chỉ học được cách gian dối, đối phó; thầy cô mà chỉ đòi hỏi học thuộc lòng, bắt học trò viết văn theo đúng mẫu cho sẵn thì sẽ triệt tiêu luôn tính sáng tạo.

Từ mẫu giáo, tiểu học lên THCS, THPT, vai trò của chức năng học làm người sẽ giảm dần, vai trò của học tri thức phải tăng dần. Nhưng từ THPT lên ĐH, sau ĐH, vai trò học tri thức nên giảm dần, mà vai trò học phương pháp phải tăng dần. Và bao trùm lên, tuy mục tiêu của mỗi giai đoạn mỗi khác nhau, nhưng những yêu cầu về hệ thống giá trị thì phải xuyên suốt. Tiểu học cũng phải chú trọng dạy tư duy sáng tạo, và ĐH cũng không được quên dạy làm người.

Về nhân lực giáo dục, có thể nói toàn bộ sự xuống cấp trầm trọng của giáo dục hiện nay trước hết có nguyên nhân từ giáo dục phổ thông quá kém. Trình độ, năng lực, bản lĩnh các thầy cô dạy phổ thông hạn chế là do chất lượng đầu ra của ngành sư phạm kém. Đầu ra kém là vì số lượng và chất lượng đầu vào ngành sư phạm ngày càng ít và thấp. SV không chọn ngành sư phạm là do cơ hội kiếm việc làm thấp, thu nhập thấp, địa vị nhà giáo không được tôn trọng. Không chỉ ngành sư phạm mà chất lượng SV tốt nghiệp tất cả các ngành ĐH đều ngày càng kém đi. Lý do rất đơn giản: Nhìn tấm gương các thầy, các giáo sư được đối xử như thế, SV giỏi không mấy ai chịu ở lại trường. Cái gốc của nhân lực giáo dục nằm ở chất lượng giáo viên ĐH. Cho nên giải pháp chính là, muốn có thầy cô phổ thông giỏi phải có thầy cô ĐH chất lượng, muốn có thầy cô cả phổ thông lẫn ĐH chất lượng thì giáo viên phải có thu nhập đủ sống mà không cần phải dạy thêm, đồng thời phải quản lý tốt để đảm bảo lao động cả về số lượng lẫn chất lượng.

Đến đây ta đã đụng chạm đến vấn đề mấu chốt của mấu chốt là vật lực giáo dục. Không có quốc gia nào mà nhà nước bao cấp được toàn bộ nền giáo dục. Việc xã hội hóa giáo dục nhằm đến nhiều mục tiêu, nhưng trong đó có mục tiêu huy động nguồn lực tài chính, đến lượt mình, việc đó liên quan đến chuyện kinh tế thị trường. Đừng né tránh mà nên công khai thừa nhận sự tồn tại của nhiều loại hình nhà trường, trong đó có loại trường hoạt động vì lợi nhuận. Chỉ có điều khác là thị trường kinh tế thì điều tiết bằng giá cả, còn thị trường giáo dục phải điều tiết bằng chất lượng. Bên cạnh đó, cần sử dụng thêm nhiều giải pháp khác để thu hẹp phạm vi bao cấp của ngân sách để nâng chất lượng đầu tư, ví dụ: Cổ phần hóa, phân tầng và cho mở trần học phí đối với một số loại trường (theo kiểu trường đại học quốc tế).

Về cơ chế giáo dục, tăng cường hơn nữa việc tự chủ là một giải pháp sẽ giúp giải quyết cả chất lượng lẫn tài chính. Nếu cứ cho ''bú mớm'' mãi mà không tăng cường tự chủ, phân cấp quản lý, cởi trói cho giáo dục thì giáo dục sẽ không thể cất cánh được. Tuy nhiên, nếu tự chủ tràn lan, cào bằng thì cũng rất nguy hiểm. Các trường ĐH chưa đủ tầm thì không nên cho tự chủ đại trà, nhưng trường lớn thì không thể trói buộc bởi nhiều cơ chế. Tăng cường dân chủ trong giáo dục cũng là một giải pháp khác về cơ chế. Cuối cùng, hoạt động giáo dục phải đảm bảo chất lượng. Tư tưởng của nhiều thầy cô rằng điểm chẳng là gì cả, nên cấp phổ thông thì cho rộng tay để có thành tích, cấp ĐH và sau ĐH cho rộng tay để thu hút SV là nguy hại vô cùng cho tương lai của giáo dục nước nhà.

Tại một cuộc họp của Uỷ ban Thường vụ QH gần đây có nêu ra vấn đề là chúng ta có hàng chục ngàn tiến sĩ, 9.000 giáo sư nhưng ít có phát minh, sáng chế, trong lúc nông dân lại làm được điều đó, Giáo sư có nhận định gì về thực tế này?

- Xin được nói ngay, nghiên cứu khoa học có hai loại: Nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu cơ bản có thể đi trước thời đại rất nhiều, nhưng nghiên cứu ứng dụng thì ngược lại, phải gắn với nhu cầu xã hội. Hiện nay, nhiều nghiên cứu khoa học và chương trình đào tạo chưa sát thực tế, chưa nắm bắt nhu cầu từ sản xuất, đời sống. Tôi xin mở rộng thêm, xuất phát từ quan sát bề ngoài, lâu nay nhiều người cho rằng người Nam Bộ không chịu học cao, nhưng không thấy nguyên nhân là vì người Nam Bộ vốn thiết thực, nên họ sẵn sàng tự học để có những kiến thức họ cần chứ không chịu mất thời gian ngồi học những thứ viển vông.

Chúng ta từng chứng kiến các kỹ sư ''hai lúa'' Nam Bộ như Trần Văn Dũng ở Trà Vinh chế tạo máy hút bùn bán khắp cả nước; Năm Hiếu ở Cần Thơ chăm sóc mai tết không rụng, mỗi mùa thu mấy tỉ đồng; “thần đèn” Nguyễn Cẩm Lũy- Tư Lũy gây kinh ngạc cho giới kỹ sư chuyên nghiệp.

Vậy thì làm cách nào để các nhà khoa học làm ra được những sản phẩm công nghệ áp dụng được vào thực tiễn đời sống, thưa Giáo sư?

- Kinh nghiệm của thế giới là phải kết hợp 3 chức năng: Nghiên cứu khoa học – đào tạo – gắn kết với sản xuất trong một loại trường gọi là đại học nghiên cứu (Research University). Trong khi ở tất cả các trường ĐH của ta, kể cả hai ĐH quốc gia, vì lý do kinh tế nên đều coi nhiệm vụ đào tạo là chính, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học là phụ. Lãnh đạo các trường chỉ thích giữ biên chế giảng dạy, bởi vậy mà nghiên cứu viên rất ít hoặc không có. ĐH nghiên cứu là loại trường có hai lực lượng cán bộ với tỉ lệ trách nhiệm khác hẳn nhau: Cán bộ giảng dạy dành khoảng 70% thời gian cho giảng dạy + 30% cho nghiên cứu; và cán bộ nghiên cứu dành khoảng 70% thời gian cho nghiên cứu + 30% cho giảng dạy. Đây là loại trường đào tạo đội ngũ lãnh đạo cho quốc gia và nguồn nhân lực tinh hoa cho đất nước. ĐH nghiên cứu là chìa khóa cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức, đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Đức là nước đề xuất ra mô hình ĐH nghiên cứu từ thế kỷ 19, nhờ các trường này mà Đức vượt lên trở thành quốc gia mạnh hàng đầu Châu Âu vào đầu thế kỷ 20. Chính các ĐH nghiên cứu đã giúp Mỹ giữ vững vị trí đứng đầu thế giới. Trung Quốc thực hiện quyết liệt việc xây dựng ĐH nghiên cứu từ năm 1995; Nga đưa ĐH nghiên cứu vào Luật Giáo dục từ năm 1996, thực hiện quyết liệt từ năm 2009. Thái Lan cũng làm từ năm 2009. VN không thể không xây dựng ĐH nghiên cứu, do vậy làm sớm chừng nào tốt chừng ấy.

- Xin cảm ơn Giáo sư.

Nguồn: laodong.com.

Monday, October 15, 2012

CÁI LẰN RANH MONG MANH SƯƠNG KHÓI

  Nguyễn Minh Nhị
Công luận đang lên án và báo nguy về hiện tượng giả dối (nói dối - nói dóc) đang làm lung lay nền tảng đạo đức xã hội. Báo Tuổi trẻ hỏi ý kiến tôi về việc này. Tôi từ chối vì tự thấy mình cũng từng có "nói dối". Sau khi "từ chối", tự nhiên tôi thấy đó là lý do có những dòng sau đây.

Nói dối có nguồn gốc xã hội sâu xa hàng ngàn năm, xuất phát từ phản ứng tự vệ của con người trong ngàn năm bị kẻ thù tàn bạo, nham hiểm và đầy giả dối luôn luôn mưu mô tiến hành đồng hóa dân tộc ta. Không nói dối làm sao tồn tại để phục hồi dân tộc - quốc gia cuối thế kỷ thứ X đầu thế kỷ XI. Dưới chế độ thực dân, đế quốc dân ta lại tiếp tục nói dối để tự bảo vệ bản thân, bảo mật tổ chức. Nói dối với kẻ thù, với người quen mà mình chưa tin là "nói dối lành tính", nói dối do hoàn cảnh, như trời đang mưa lại xuất hiện sương mù để dự báo sẽ có nắng ráo. Đó là "Dóc phản vệ". Nói dóc với kẻ thù thì cũng dễ nói dóc với người khác, kể cả người thân. Đó là điều dễ hiểu. Thời bao cấp, nhà ăn thịt gà nhưng sợ hộ bên cạnh biết sẽ nhận xét nên mới có việc dùng kéo cắt thịt thay vì để trên thớt dùng dao chặt thịt. Bây giờ quen rồi, dùng kéo cắt thịt, làm cá... đâm ra tiện lợi. Đó là "phản ứng phụ" của liều thuốc "phản vệ" không có gì lạ.

Cái lạ và đáng suy nghĩ, báo nguy là trong chế độ ta, những cái giả dối từ lời nói đến việc làm bắt nguồn từ thượng tầng chi phối. Trong Cải cách ruộng đất ở miền Bắc trước kia, không có địa chủ theo quy định phần trăm trên đầu nông hộ cũng phải "tìm" cho ra tên cụ thể cho đạt chỉ tiêu. Thi đua là yêu nước, nhưng vì muốn mình yêu nước nhiều hơn người khác thì phải tô hồng, vo tròn (nói dối) thành ra thi đua chệch hướng hoài mà gò lại không được. Bộ Giáo dục từ "nói không với bệnh thành tích" thì thi tốt nghiệp phổ thông năm ấy chỉ đậu 50 - 70%. Lại thi đua, tăng dần lên, năm nay đạt từ 90 đến 100% (?). Học bổ túc, học tại chức làm gì bằng học phổ thông, học chính quy. Vậy mà bằng nào cũng có giá trị như nhau! Trong hoàn cảnh chiến tranh hay khi dân ta mới thoát nạn mù chữ thì chủ trương và chánh sách ấy hoàn toàn phù hợp. Thế hệ ấy (ông, cha) nay không về hưu thì cũng thành thiên cổ, vậy mà con cháu tiếp tục làm vậy nữa thì trách sao nó không lùn xuống so với ông cha chớ đừng nói với hội nhập với người ta ở thế kỷ XXI! Cơ quan chủ trương có thể bảo lưu và buộc các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước thực hiện việc "san bằng trí tuệ" này, nhưng anh thu nhận được bao nhiêu lao động, số còn lại ai thu? Mà ngay như đã có tỉnh, có cơ quan họ chủ trương công khai (nhưng phần nhiều là bí mật) là không tuyển số đó, vậy mà cũng chưa thức tỉnh. Còn doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nước ngoài thì cái bằng tốt nghiệp đối với họ chỉ là "chứng chỉ" để vào cửa phỏng vấn hoặc thử việc thôi. Có tin ở Bình Dương công khai không nhận lao động 4 tỉnh Bắc Trung Bộ nghe đau lòng quá nhưng bắt tội doanh nghiệp được không? Còn nạn bằng giả làm sao mà chấm dứt được ít nhất là trong mười năm tới, khi mà quy hoạch cán bộ phải có mấy bằng mới đủ chuẩn, mà bằng nào cũng có giá trị như nhau. Bây giờ lợi dụng "kinh tế thị trường", nói dối đi đôi với làm dối thì hốt bạc vô biên nên biết bao dự án gây thiệt hại ngân sách, tàn phá môi trường, đánh vào lòng dân rất thê thảm... Đây thật sự là những "đám khói đồng" do người đốt chớ không phải là "màn sương mù" như nói bên trên. Một hiện tượng hai bản chất như hai số giống nhau nhưng mỗi số mang dấu + (dương) - (âm) khác nhau. Cái lằn ranh mong manh giữa sương và khói ấy nếu không sớm nhận ra thì "khói đốt đồng" sẽ ngày càng đen kịt che hết ánh sáng mặt trời thì mầm đạo đức sao còn đất sống?
Cái lằn ranh mong manh ấy chỉ có cấp vĩ mô mới có quyền nhận ra và mới có quyền điều chỉnh. Mọi quan hệ xã hội và gia đình: cha con, thầy trò, anh em, bạn bè, cấp trên cấp dưới... đều theo hướng điều chỉnh đó. Nếu ai cũng tự kiểm thấy mình có ít nhất một lần nói dối thì cũng không nên đổ lỗi dần lân, nào là do nhà trường, do gia đình, do xã hội... Đều đúng cả, nhưng theo tôi là không trúng. Vì không trúng nên bao nhiêu liều thuốc đặc trị rồi, con bệnh càng lờn thuốc nên càng ranh ma hơn như "cải cách giáo dục" mấy lần rồi mà Hội nghị TW 5 vừa rồi chủ trương "phải đổi mới toàn diện và triệt để"; học tập Bác qua mấy nhiệm kỳ đại hội rồi mà sao người không làm theo Bác "bị lộ" càng nhiều hơn để Hội nghị TW 4 phải ra Nghị quyết đánh động toàn Đảng, toàn dân?
Long Xuyên, ngày 10/10/2012

Saturday, October 13, 2012

NỀN TẢNG TÂM LINH

Một trong những vốn quý mà tất cả chúng ta đều có chính là một nền tảng tâm linh. Nếu bạn thừa nhận với tôi bạn là một người dân Việt, tôi có thể đoan chắc là bạn đã sẵn có một nền tảng tâm linh nhất định, cho dù là bạn có nhận biết điều đó hay không.

Nền văn hóa Việt là một nền văn hóa dựa trên những nền tảng tâm linh. Chúng ta đã từng có những cơ hội tiếp xúc với các nền văn hóa lớn, và trong những bối cảnh tiếp xúc đó, chúng ta luôn dựa trên những nền tảng tâm linh để tiếp thu và dung hòa. Chính nhờ đó mà lịch sử đã chứng minh một điều là văn hóa Việt khi tiếp thu các nền văn hóa khác chưa từng đánh mất bản sắc của mình.

Truyền thống thờ cúng ông bà, tổ tiên là một trong những giá trị tâm linh mà tôi có thể viện dẫn ra để chứng minh cho những nền tảng của nền văn hóa Việt. Chúng ta không tiếp thu truyền thống này từ bất cứ nền văn hóa ngoại lai nào khác, mà thực sự là đã được thừa hưởng từ các thế hệ ban sơ của tổ tiên người Việt.

Vào khoảng đầu Công nguyên, chúng ta bắt đầu được tiếp xúc với Phật giáo nhờ có các thương nhân Ấn Độ tìm đến nước ta bằng đường biển. Một số thương nhân là Phật tử, và có lẽ họ đã mời thỉnh chư tăng đi theo thuyền buôn của họ để có một chỗ dựa tinh thần trên đường vượt biển. Các vị tăng sĩ Phật giáo này khi đến nước ta đã khởi đầu việc truyền bá giáo lý đạo Phật. Và vì thế, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những chứng cứ cho thấy đạo Phật đã phát triển khá sớm ở nước ta so với Trung Hoa thời đó.

Sách Thiền uyển tập anh chép truyện Quốc sư Thông Biện dẫn lời pháp sư Đàm Thiên của Trung Hoa nói rằng: “Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có tới 20 ngôi bảo tháp, độ được hơn 500 vị tăng và dịch được 15 quyển kinh rồi. Như vậy là Phật giáo đã truyền đến Giao Châu trước nước ta.”[1]

Giao Châu là tên gọi nước ta thời Bắc thuộc, và Luy Lâu là trung tâm của Giao Châu thời ấy (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc), còn Thiên Trúc là tên gọi ngày xưa để chỉ nước Ấn Độ. Đoạn trích dẫn này cho thấy rõ là chính người Trung Hoa cũng đã thừa nhận việc Phật giáo truyền đến Việt Nam và phát triển sớm hơn. Trong các truyện cổ của ta, có truyện Chử Đồng Tử cho thấy có bóng dáng của Phật giáo, và danh từ “Bụt” xuất hiện trong nhiều truyện cổ tích chính là cách phiên âm chữ “Buddha” trong tiếng Phạn (ngôn ngữ thời cổ của Ấn Độ) của người Việt thuở xưa. Cũng danh từ này, người Trung Hoa phiên âm bằng chữ 佛陀 và người Việt chúng ta đọc theo âm Hán Việt là Phật-đà, rồi sau giản lược chỉ còn một âm là Phật. Vì là phiên âm trực tiếp nên ta có thể thấy âm “Bụt” gần với nguyên ngữ hơn là âm “Phật”.

Khi tiếp nhận những giáo lý về luân hồi và nghiệp quả của đạo Phật, người Việt đã không từ bỏ những nền tảng tâm linh truyền thống trước đó của mình, mà ngược lại đã sử dụng chính những giáo lý của đạo Phật để giải thích cho niềm tin vốn có của mình. Vì thế, Phật giáo khi du nhập vào văn hóa Việt đã không còn thuần túy là Phật giáo như ở cội nguồn của nó là Ấn Độ. Điều này ngay cả cho đến ngày nay chúng ta vẫn còn có thể thấy được.

Người Việt thờ cúng ông bà, tổ tiên và tin chắc rằng trong các dịp cúng giỗ hằng năm các vị luôn quay về với con cháu. Niềm tin này cho đến nay vẫn không thay đổi. Người Việt ngày nay dù theo bất cứ tôn giáo nào cũng không từ bỏ việc cúng giỗ ông bà hoặc cha mẹ đã mất.

Thuyết luân hồi và nghiệp quả của Phật giáo nói rằng tất cả chúng sanh do nghiệp đã tạo mà phải chịu trôi lăn trong vòng sanh tử, phải tái sanh vào các cảnh giới khác nhau tùy theo nghiệp lành hay dữ đã tạo.

Người Việt tiếp nhận giáo lý này như một sự giải thích phù hợp với niềm tin của mình. Đó là tổ tiên, ông bà hay cha mẹ đã mất vẫn còn tồn tại, để có thể trở về với con cháu vào mỗi dịp cúng giỗ, thậm chí là còn luôn hiện diện bên cạnh con cháu để phù hộ, giúp đỡ vào những lúc cần thiết.

Nhưng nếu đứng từ một góc độ khách quan để so sánh giữa niềm tin của người Việt chúng ta như trên với những gì thuần túy là giáo lý Phật giáo, chúng ta sẽ thấy rõ là có sự khác biệt. Giáo lý đạo Phật dạy rằng “con người sau khi chết sẽ tái sanh tùy theo nghiệp lực”, và hiểu đúng theo ý này thì tổ tiên, ông bà, hay cha mẹ đã mất của chúng ta cũng đều phải chịu tái sanh vào một đời sống khác tùy theo nghiệp thiện ác mà họ đã tạo. Mà như vậy thì không thể có chuyện tổ tiên, ông bà hay cha mẹ đã mất có thể hiện diện mãi mãi bên con cháu, hoặc quay về chứng giám trong những dịp cúng giỗ.

Tuy nhiên, bất chấp sự khác biệt này, người Việt vẫn tiếp thu đạo Phật theo cách của mình, và tất cả Phật tử Việt Nam đều xem việc thờ cúng tổ tiên, ông bà hay cha mẹ đã mất là điều hoàn toàn phù hợp với giáo lý nhà Phật. Ngay cả những người đã xuất gia sống đời tăng sĩ vẫn không từ bỏ việc giỗ cúng ông bà, cha mẹ hằng năm. Và họ còn vận dụng niềm tin này vào cả trong đạo pháp, nên các vị thầy, tổ đã viên tịch cũng đều được giỗ kỵ hằng năm.

Sự tiếp thu theo cách như trên đã tạo điều kiện để duy trì được truyền thống tâm linh truyền lại từ bao thế hệ trước, nhưng đồng thời cũng không hề đánh mất đi những giá trị tích cực trong giáo lý nhà Phật. Bởi vì, nếu nhìn từ một góc độ khác thì việc cúng giỗ tổ tiên, ông bà hay cha mẹ đã mất cũng có thể xem chính là mang ý nghĩa tri ân, bày tỏ sự nhớ ơn của con cháu đối với những bậc sinh thành. Và điều này không hề ngăn cản chúng ta thực hành những lời dạy tốt đẹp của đức Phật.

Một sự tiếp thu có thay đổi khác nữa có thể nhận ra là cách vận dụng giáo lý nhân quả. Đạo Phật dạy rằng mọi hành vi của chúng ta đều mang lại những kết quả nhất định, rằng những điều ác sẽ mang lại ác nghiệp và những điều lành sẽ mang lại thiện nghiệp.

Người Việt khi tiếp thu giáo lý này đã vận dụng ngay thành một niềm tin đơn sơ nhưng chắc chắn trong ứng xử: “Ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão.”. Nhưng không dừng lại ở đó, kết hợp thêm với truyền thống gắn bó giữa ông bà, cha mẹ và con cháu, người Việt đã đi đến quan niệm “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, hay thậm chí đi xa hơn nữa là “Con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ”. Và cũng từ những quan niệm này, người Việt luôn xem mọi thành quả tốt đẹp hay sự an ổn trong cuộc sống của mình đều là nhờ nơi âm đức của tổ tiên, nhờ phúc đức của ông bà, cha mẹ để lại.

Nhưng nếu hiểu đúng theo giáo lý nhân quả của đạo Phật thì vấn đề có phần khác biệt. Bởi Phật giáo chỉ rõ rằng nghiệp báo là vấn đề của mỗi người, vì thế các nghiệp thiện ác là “ai làm nấy chịu”, cho dù là cha mẹ với con cái hay bà con thân tộc cũng không thể thay thế cho nhau được. Vì thế, hiểu đúng theo giáo lý nhà Phật thì cha mẹ không thể “để đức” cho con được, mà chính bản thân đứa con vốn đã có những nghiệp thiện ác từ trước để phải nhận lãnh.

Nhưng bất chấp sự khác biệt này, tất cả Phật tử Việt Nam đều giữ nguyên vẹn niềm tin như trên một cách sâu sắc, và họ cũng không hề thấy rằng việc tin như vậy là có mâu thuẫn gì với giáo lý nhân quả của nhà Phật.

Sự tiếp thu có thay đổi này tạo nên một bản sắc riêng của Phật giáo Việt Nam, bởi vì cho dù có những thay đổi nhưng đạo Phật vẫn được tiếp nhận và truyền bá, và những thay đổi theo cách này không hề làm sai lệch đi phần cốt lõi của giáo lý đạo Phật. Như trong trường hợp chúng ta vừa nêu, niềm tin của người Việt dù có phần khác biệt, nhưng chung quy vẫn là dẫn đến một ý hướng khuyến khích việc làm lành lánh dữ. Mà khi xét đến điểm này thì rõ ràng là đã hòa nhập hoàn toàn với tôn chỉ của đạo Phật.

Còn rất nhiều điểm nữa có thể chỉ ra tương tự như trên trong quá trình tiếp thu các nền văn hóa khác nhau vào văn hóa Việt, nhưng có lẽ tạm nêu một vài điểm như thế cũng đã đủ chứng minh cho một nền tảng tâm linh vững vàng của văn hóa Việt ngay từ những ngày ban sơ của dân tộc.

Sự duy trì và bồi đắp những nền tảng tâm linh của dân tộc chính là nguyên nhân tạo nên sức mạnh phi thường, khiến cho một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng không hề bị đồng hóa bởi một dân tộc khác lớn hơn gấp nhiều lần trong suốt cả ngàn năm đô hộ.

Còn hơn thế nữa, điều này đã cho phép chúng ta tiếp thu và sử dụng một cách tích cực các yếu tố văn hóa ngoại lai mà không để cho nó làm lung lay cội rễ của mình. Việc sử dụng chữ Hán và kèm theo đó là một nền giáo dục theo Khổng-Mạnh trong suốt thời kỳ phong kiến đã chứng minh điều này.

Việc sáng chế ra chữ Quốc ngữ bằng phương pháp La-tinh hóa chữ Nôm là một thành tựu lớn lao tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh chóng vượt bậc của nền văn hóa Việt trong thời cận hiện đại.

Nhưng chúng ta đều biết là những người đầu tiên khởi xướng việc sáng tạo chữ Quốc ngữ không phải là người Việt, và họ không làm điều đó với ý hướng thực sự tốt đẹp là giúp đỡ chúng ta. Các nhà truyền giáo phương Tây xem đây là phương tiện tốt nhất để truyền đạo, còn nhà cầm quyền Pháp thì xem như một biện pháp để lôi cuốn giới trí thức theo về Tây học, nhằm đánh bật cội rễ hàng ngàn năm của nền Hán học lúc bấy giờ đang gắn chặt với quan điểm “trung quân ái quốc” và bài xích văn hóa phương Tây.

Vấn đề đã không đi theo đúng hướng như họ mong muốn. Người Việt nhanh chóng nhận ra những lợi thế của chữ Quốc ngữ nên đã tích cực đóng góp vào việc hình thành và phát triển loại chữ mới này, nhưng không phải để tiếp thu văn hóa phương Tây về thay thế cho những nền tảng văn hóa Việt, mà là sử dụng nó như một công cụ hữu ích để bảo vệ và phát triển mạnh mẽ nền văn hóa Việt, thậm chí là được vận dụng ngay trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Thơ ca, hò vè tuyên truyền cho kháng chiến đã được phổ biến dễ dàng và hiệu quả hơn nhờ có chữ Quốc ngữ. Quả đúng là “gậy ông lại đập lưng ông”!

***

Này người bạn trẻ, như bạn đã thấy đó. Các thế hệ cha ông của chúng ta đã không uổng mang dòng máu Lạc Hồng, đã không để mất đi những nền tảng văn hóa truyền thống từ cội nguồn tổ tiên truyền lại.

Nhưng lịch sử là một sự lặp lại có biến đổi. Chúng ta ngày nay không phải là không có những mối đe dọa xâm thực từ các yếu tố văn hóa ngoại lai. Thậm chí còn có thể là nguy hại và đáng sợ hơn cả ngày xưa nữa.

Và con đường mà cha ông ta đã đi là những kinh nghiệm quý báu mà ta không thể không nhớ đến. Vũ khí mà bao thế hệ trước đã dùng để bảo vệ nền văn hóa Việt không gì khác hơn là nền tảng tâm linh sâu thẳm mà trong mỗi chúng ta đều sẵn có. Chỉ cần bạn nhớ duy trì và vun bồi cho truyền thống tâm linh ấy, bạn sẽ được bảo vệ để chống lại bất cứ sự xâm thực nào của các yếu tố văn hóa ngoại lai.

Bạn không phải tìm đâu xa mới có thể nhận biết được những nền tảng tâm linh của chúng ta đang được vun bồi hay đang suy thoái. Hãy quan sát những ngày kỵ giỗ ông bà trong gia đình và thái độ của từng người con đối với ngày thiêng liêng ấy.

Một số bạn trẻ ngày nay không tự mình cảm nhận được ý nghĩa thiêng liêng của những ngày kỵ giỗ, và đôi khi tham dự một cách miễn cưỡng do cha mẹ hay những người lớn bắt buộc. Đây là một trong những dấu hiệu suy thoái của nền tảng tâm linh trong văn hóa Việt. Những bạn trẻ này, một ngày nào đó sẽ không còn thấy cần thiết phải có một bàn thờ tổ tiên, ông bà trong gia đình nữa, và họ sẽ không còn được bảo vệ bởi những sức mạnh vô hình sâu xa trong nền tảng tâm linh dân tộc.

Từ ngàn xưa, mối quan hệ chặt chẽ trong gia đình, dòng tộc và làng xóm vẫn là đặc trưng nổi bật nhất trong nền văn hóa Việt.

Trong suốt hàng ngàn năm Bắc thuộc, tổ tiên ta vẫn vững vàng “cố thủ” sau những lũy tre xanh ấn định “biên giới bất khả xâm phạm” của làng xã. Sinh hoạt của người dân trong làng xã và các mối quan hệ chặt chẽ với nhau là điều mà quan quân đô hộ không sao lay chuyển nổi. Bởi thế đã hình thành từ lâu câu tục ngữ: “Phép vua thua lệ làng.” Và chính điều này đã tạo điều kiện để những phong tục, tập quán của dân tộc được truyền lại qua từng thế hệ nối tiếp nhau.

Người dân sống chung trong một làng có quan hệ với nhau thân thiết đến nỗi khi có một người đỗ đạt vinh hiển thì hầu như cả làng đều cảm thấy vui theo trong niềm tự hào, vinh dự chung... Và quan trọng hơn nữa, mỗi làng đều có thờ một vị thành hoàng. Tuy là một vị thần nhưng được tôn kính như một người cha chung, luôn thương yêu và bảo vệ, che chở cho tất cả con cái trong làng. Ở một số làng, thành hoàng còn có thể là những nhân vật có thật trong lịch sử, chính là một người dân của làng đã có những đóng góp lớn lao cho đất nước hoặc cho dân làng, hoặc đã có công dạy nghề giúp dân làng sinh sống... Vì thế, cũng giống như việc thờ cúng tổ tiên, người Việt thờ thành hoàng như một hình thức bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc không phai nhạt theo thời gian.

Thu hẹp hơn quan hệ làng xã là quan hệ dòng tộc, về quy mô là nhỏ hẹp hơn vì thế cũng chặt chẽ hơn. Ngày xưa – thậm chí đến nay vẫn còn ở một số nơi – mỗi làng chỉ có một số ít tộc họ nhất định, và mỗi tộc họ thường có một nhà thờ chung (từ đường). Quan hệ của những người trong cùng tộc họ rất chặt chẽ, gắn bó. Vị trưởng tộc có quyền quyết định nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến các thành viên trong tộc họ, và đồng thời cũng có trách nhiệm dìu dắt, nâng đỡ mọi người... Người trong một tộc họ khi lưu lạc làm ăn phương xa vẫn phải nhớ những ngày kỵ giỗ chính để quay về, hoặc cử đại diện về tham dự.

Và quan hệ chặt chẽ nhất vẫn là quan hệ trong gia đình. Mối quan hệ này đến nay vẫn còn để lại nhiều dấu ấn cho thấy tính chất quan trọng của nó tự thuở xa xưa. Chẳng hạn, ngày xưa trong hôn nhân người Việt theo quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Ngày nay chúng ta cho rằng quan niệm này không còn hợp thời nữa, nhưng nó vẫn cho chúng ta thấy được vai trò quyết định và trách nhiệm của các bậc cha mẹ ngày xưa lớn lao như thế nào, cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau của các thành viên trong gia đình là chặt chẽ biết bao. Con cái đối với cha mẹ phải vâng lời tuyệt đối, ngay cả những vấn đề mà ngày nay ta gọi là “riêng tư”. Quan hệ anh chị em cũng hết sức chặt chẽ, chẳng hạn như quan niệm “quyền huynh thế phụ” cho thấy là người anh có quyền hạn và trách nhiệm với các em không kém người cha, nhất là khi người cha chẳng may mất sớm.

Trong quan hệ vợ chồng thì “phu xướng, phụ tùy”, hay thân mật hơn là lời khuyên “chồng giận thì vợ bớt lời...”.

Ngày nay, bạn có thể cho rằng những mối quan hệ được quy định như trên có vẻ gì đó chuyên chế, không công bằng... Và thực tế là nhiều người đã không còn tuân theo như thế, chẳng hạn như trong quan hệ cha mẹ với con cái, anh chị đối với các em, vợ chồng đối với nhau...

Tuy nhiên, nếu chúng ta xét trong bối cảnh xưa kia của những quan hệ ấy, chúng ta mới thấy được tính chất tích cực của chúng. Bởi vì, sự quy định vai vế, trật tự trên dưới ngày xưa là kèm theo đó cũng quy định trách nhiệm nặng nề về phía những người “có quyền”. Cha mẹ phải lo lắng cho cuộc sống và hạnh phúc của con cái, thậm chí cho đến lúc đã có cháu nội, cháu ngoại. Anh chị phải có trách nhiệm với các em, thậm chí cho đến khi những người em đã lập gia đình và có con cái lớn khôn. Người chồng phải có trách nhiệm đối với đời sống và hạnh phúc gia đình, tự mình gánh vác để đem lại một cuộc sống sung túc cho vợ con...

Cái quy định “bất thành văn” về quyền và trách nhiệm ấy đã tồn tại từ bao đời, và chính nó đã đảm bảo sự chung sống hạnh phúc của nhiều thế hệ nối tiếp nhau trong một đại gia đình, như xưa kia gọi là “tứ đại đồng đường”, nghĩa là 4 thế hệ cùng sống chung một nhà. Nó cũng đảm bảo một tỷ lệ ly hôn thấp đến mức hiếm hoi, không đáng kể. Bởi vì như câu ca dao xưa đã diễn đạt rất mộc mạc:

Con vua lấy thằng bán than,
Nó dắt lên ngàn cũng phải đi theo.

Đã “phải đi theo” lên ngàn xuống bể, thì hẳn là chỉ có thể nghĩ đến việc xây dựng hạnh phúc gia đình sao cho tốt đẹp hơn, chứ không ai còn nghĩ đến một khả năng thay thế nào khác. Vì vậy mà ít có cặp vợ chồng nào nghĩ đến chuyện ly hôn.

Quay nhìn lại sự thay đổi trong nhiều năm qua, chúng ta không khỏi lo lắng khi nhận ra một điều là, các mối quan hệ truyền thống đang có khuynh hướng thu hẹp dần. Quan hệ làng xã ngày nay đã khác hẳn xưa kia, phần lớn chỉ còn là mối quan hệ trong quản lý hành chánh. Quan hệ dòng tộc cũng không còn chặt chẽ, mỗi gia đình đang có khuynh hướng trở thành một “dòng tộc” nhỏ, thay vì là mối quan hệ chung của nhiều gia đình trong tộc họ như xưa kia.

Và quan hệ trong gia đình cũng thay đổi khác xưa theo hướng đáng lo ngại. Nhiều bậc cha mẹ ngày nay tuy được cấp dưỡng đầy đủ nhưng không có được sự chăm sóc tinh thần đúng mức, không được thỏa mãn nhu cầu tình cảm qua việc gần gũi với các thế hệ con cháu như xưa kia, đơn giản chỉ là vì hầu hết các cặp vợ chồng trẻ đều có một mái nhà riêng hoặc mãi bận bịu với công danh sự nghiệp. Và cũng do đó, quan hệ anh chị em chỉ còn là quan hệ huyết thống đơn thuần, những gì thuộc về phạm vi trách nhiệm và quyền hạn không còn được mấy ai quan tâm đến. Bởi vì mỗi người đều có một gia đình riêng với những lo toan riêng...

Nhưng điều đáng lo ngại nhất vẫn là mối quan hệ vợ chồng. Với những “quan điểm mới” ngày nay, tỷ lệ ly hôn đã và đang gia tăng đến mức đáng sợ, thay vì là hình thành những gia đình hạnh phúc hơn như người ta vẫn tưởng khi có được một sự “công bằng hợp lý” trong quan hệ vợ chồng. Khi người ta không hướng đến sự gắn bó và xây dựng lẫn nhau để ngày càng tốt đẹp hơn, mà chỉ hướng đến việc khẳng định “cái tôi” của mình hay tìm kiếm, phát hiện những khiếm khuyết của nhau, thì sự không thỏa mãn, thất vọng cũng là điều dễ hiểu...

Này người bạn trẻ, một sự hiểu biết về những nền tảng tâm linh của dân tộc – cũng có nghĩa là của chính bạn trong sâu thẳm tâm hồn – là vô cùng cần thiết để bảo vệ bạn trước sự tấn công của các yếu tố văn hóa ngoại lai. Nhưng hơn thế nữa, điều này sẽ mang lại cho bạn một sự bình an, vững chãi trong cuộc sống, giúp bạn có thể tự tin vượt qua những sóng gió, thử thách của đời sống, bởi vì bạn luôn được sống trong sự bảo vệ về mặt tinh thần bởi các giá trị nền tảng tâm linh ấy.

Khi bạn nhận thức đầy đủ về những nền tảng tâm linh của chính mình, bạn thiết lập trở lại được mối quan hệ chặt chẽ giữa bản thân với tổ tiên nhiều đời, với cội nguồn dân tộc, và gần gũi hơn là với anh chị em trong gia đình, với cha mẹ, ông bà, với tất cả những người đang sống chung trong cộng đồng quanh bạn. Và khi bạn lập gia đình, bạn sẽ có được mối quan hệ tốt đẹp, và bền vững với người bạn đời của mình.

Này người bạn trẻ, những gì tôi vừa nói không phải chỉ là những suy luận hay lý thuyết trừu tượng khó nắm bắt... Trong thực tế, đó là kinh nghiệm quý giá được chắt lọc từ nhiều thế hệ đã qua. Nếu chúng ta không sáng suốt nhận biết để gìn giữ những gì đang có, một ngày kia chắc chắn ta sẽ phải hối tiếc khi mọi việc đã qua đi.

[1] Thiền uyển tập anh – Bản Việt dịch của Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga, trang 89, NXB Văn học.
Nguyễn Minh Tiến
Nguồn: rongmotamhon.net

Thursday, October 11, 2012

Chuyện tình cảm động của “người phi thường”

Tôi “ôm” cô ấy bằng mắt! Ngồi bên nhau tâm tình mặc cho đêm đã về khuya, sao trời càng sáng hơn, không gian yên tĩnh lạ thường. Lúc sau nữa, cô ấy ngồi vào lòng tôi, tôi quàng chân ôm chặt lấy nàng xiết vào lòng…

Thưa thầy, tấm gương vượt khó vươn lên số phận của thầy đã được nhiều người biết tới. Còn chuyện tình yêu của thầy, vẫn còn nhiều bí mật chưa kể ra, thầy có thể “bật mí” chút gì được chứ ạ… 

(Cười vang) Tôi luôn được hạnh phúc, may mắn trong tình bạn, tình yêu dù bị liệt cả hai tay!

Hồi học lớp 6, tôi được mời đi nói chuyện ở một trường bạn. Nói chuyện xong có bạn học sinh nữ chạy lên cởi khăn quàng của bạn ấy quàng vào vai tôi.

Tôi sung sướng vô ngần. Chưa hết đâu. Sang lớp 7, cô ấy chuyển trường về học chung lớp với tôi nữa chứ!

Cô ấy có chiếc compa của Trung Quốc rất tốt, thời ấy hiếm lắm và quý lắm, vậy mà cô ấy bỏ vào chiếc cặp của tôi kèm theo mảnh giấy ghi mấy chữ “Thân tặng NNK”.

Hết lớp 7, Liễu, tên cô bạn đi học kế toán. Sau này ai cũng có gia đình nhưng chúng tôi vẫn giữ quan hệ bạn bè cho tới nay, nửa thế kỷ rồi!


Thầy Ký dùng chân cắm hoa

Đó là tình bạn, còn chuyện tình yêu? Nghe đồn cũng thi vị chẳng kém…
Bắt đầu từ lúc tôi tốt nghiệp đại học về quê dạy cùng thầy Châu, là thầy dạy thời học phổ thông của tôi.

Có anh bạn dẫn em gái tới chơi. Như tình yêu sét đánh, tôi sững sờ. Cô ấy cũng có “tín hiệu”, tôi ngỏ lời với cô ấy. Cái buổi ban đầu mà như thế là nhanh lắm rồi.

Khoảng 20 ngày sau cô ấy đạp xe như bay xuống thăm người anh lúc người anh…đi vắng! Thế là gặp tôi. Chúng tôi trò chuyện, tâm tình.

Cô ấy rủ tôi đi chơi. Lần đầu tiên tôi ngồi sau xe đạp cho một cô gái chở đi trên đường. Bồi hồi, xúc động lắm.


Hạnh phúc bên người vợ thứ 2 cũng là em vợ mình

Chúng tôi đi chơi, trò chuyện, quên hết thảy những gì xung quanh. Đến lúc chợt nhớ ra thì trời đã tối. Cô ấy định về nhưng tôi nhất quyết giữ cô ấy lại. Đêm hôm ấy trời không có trăng, chỉ đầy sao lấp lánh và chúng tôi bên nhau…

Rồi sao nữa thầy? Bình thường theo đúng “quy luật” thì tới đó phải có nắm tay rồi “hơn thế nữa”, còn thầy có đôi tay mà cũng như không…

(Cười) Tôi “ôm” cô ấy bằng mắt! Ngồi bên nhau tâm tình mặc cho đêm đã về khuya, sao trời càng sáng hơn, không gian yên tĩnh lạ thường…

Lúc sau nữa, cô ấy ngồi vào lòng tôi, tôi quàng chân ôm chặt lấy nàng xiết vào lòng…

Ôi, độc đáo quá...!

(Thầy Ký kể đến đây thì ngừng lại. Có lẽ thầy đang bồi hồi nhớ lại “cái thưở ban đầu…” của mình. Rồi thầy dùng chân lục trên giá sách lấy ra quyển sổ ghi chép của những khách đến thăm, ngón chân thầy thoăn thoắt giở lật từng trang, tìm ra bài thơ “Thơ vui tặng Nguyễn Ngọc Ký” của nhà thơ Trương Nam Hương cho tôi xem).

Có một người đi học
Sách vở mang trong đầu
Đôi tay mềm dắt gió
Lấy chân mình chép câu
Yêu đương trong trẻo lắm
Không dùng tay…du xuân
Đêm đêm nằm với vợ
Quấn quýt bằng…ba chân


Chờ tôi đọc xong bài thơ, thầy Ký nói tiếp:

“Nàng” chính là vợ đầu của tôi, tên Vũ Thị Nhiễu, cũng là cô giáo, đã gắn bó cùng tôi mấy chục năm trời, gánh vác chia sẻ với tôi mọi buồn vui trong cuộc đời. Cô ấy đã mất chục năm nay rồi!

So ra, thầy khá “may mắn” và hạnh phúc trong tình yêu phải không thầy?

Cũng không hoàn toàn vậy đâu! Tôi và cô ấy đến với nhau bằng tình yêu mãnh liệt song vấp phải sự phản đối của gia đình cô ấy cũng vô cùng quyết liệt! Vì yêu tôi, cô ấy đã bị ngăn cản, bị đánh đập nhiều lắm đấy!

Ai mà tin con gái xinh đẹp nhất vùng, học hành tới nơi tới chốn mà lại chọn người yêu, người chồng tật nguyền, liệt 2 cánh tay như tôi?

May nhờ nhà thơ Đoàn Văn Cừ ở gần đấy, ông rất quý tôi và có uy tín lớn với bố cô ấy. Bố cô ấy vốn mê thơ của nhà thơ Đoàn Văn Cừ. Ông gặp bố vợ tương lai của tôi nói đại ý là tôi có tài, năng lực tốt, cái tên Ngọc Ký cũng rất tốt. Nói tóm lại là “rể quý” đấy.

Và tình yêu, vợ chồng là duyên phận với nhau v.v…Cuối cùng, bố vợ tôi đồng ý! Thế là đám cưới diễn ra, chúng tôi nên vợ chồng!

Cuộc sống vợ chồng của thầy với đôi tay bị liệt chắc cũng phải “đặc biệt” lắm mới vượt qua mọi trở ngại và có được hạnh phúc?

Vợ chồng tôi đều là giáo viên, cũng như mọi người, phải cố gắng rất nhiều để xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái nên người! Riêng tôi thì luôn phải cố gắng gấp bội so với người bình thường để bù đắp khiếm khuyết, bất hạnh của mình.

Ngoài đi dạy, về nhà thầy có làm việc trong nhà giúp vợ, chăm con được không? Thầy làm thế nào?

Chẳng việc gì mà tôi không làm cả. Khó xử nhất là giai đoạn vợ chồng tôi còn ở chung nhà với mẹ tôi. Vợ tôi sinh con đầu lòng, nằm cữ, tôi phải cáng đáng việc nhà nhiều hơn.

Đi dạy về lụi cụi làm việc trong nhà. Sáng dậy sớm ra ao giặt đồ cho vợ con. Mẹ tôi thấy vậy, cụ xót ruột, mắng: “Chồng đã liệt 2 tay, đi dạy cả ngày về còn phải dậy sớm giặt đồ, vợ đành lòng để vậy à?”.

Vợ mới sinh nở, sợ vợ buồn, tôi phải động viên, an ủi. Từ đó về sau tôi phải dậy sớm từ lúc còn tờ mờ để mẹ tôi không biết, giặt xong thau đồ rồi lên nằm chờ sáng để đi dạy. Nhờ vậy mà ổn cả đôi đàng!


Đến cuối đời, tình yêu của họ vẫn còn nồng thắm  

Thầy là tấm gương phi thường nhưng vợ thầy cũng là người phụ nữ phi thường dám yêu bằng trái tim và vượt qua mọi thị phi, trở ngại đến với thầy. Trong đời sống vợ chồng, thầy có bí quyết gì để nuôi dưỡng tình yêu tuyệt vời đó cũng như hạnh phúc gia đình của mình? 

Hồi đó, nhiều người bảo tôi rằng, chỉ có những đứa con gái ăn không biết trở đầu đũa mới lấy tôi. Nên khi lấy được người vợ là cô gái xinh đẹp nhất trong vùng, tôi phải cố gắng xây dựng và gìn giữ hạnh phúc của mình.

Bí quyết gì ư? Sống và cố gắng bằng tất cả trái tim mình.

Tôi đã từng tâm sự với bạn bè rằng, tôi bị liệt đôi tay, bù lại, trời thương ban cho tôi hạnh phúc tuyệt vời. Vợ tôi đúng là "quà tặng của thượng đế" cho tôi. Lúc biết mình sắp mất, vợ tôi rất lo lắng cho tôi, không biết tôi sẽ sống ra sao nếu không có cô ấy bên cạnh. Con cái thì đã lớn, sẽ có vợ có chồng.

Nằm trên giường bệnh mà vợ tôi cứ thổn thức, suy nghĩ.

Em vợ tôi (tức vợ hiện nay của tôi), lúc ấy ở ngoài Bắc, chồng mất đã hơn 10 năm, một mình ở vậy nuôi 2 đứa con, bay vào thăm bà chị sắp mất.

Nằm trên giường, gặp em gái vào thăm, vợ tôi mừng rơi nước mắt, cầm tay em gái nói: “Chị xin em một điều, chị mất đi rồi, em hãy thay chị làm vợ anh Ký, sống và chăm sóc anh ấy những ngày còn lại…”.

Tôi không kìm được nước mắt, quay mặt đi, chẳng biết nói gì.

Thực ra, trước khi em vợ vào, vợ tôi cũng đã trao đổi với tôi mấy lần về việc này, nhưng tôi gạt đi. Ngờ đâu, cô em vào tới nơi, vợ tôi nói ra được ước nguyện cuối cùng rồi ra đi mãi mãi…

Người vợ thứ hai hiện nay chính là em vợ của tôi, tên Vũ Thị Đậu….

Duy Chiến (VietNamnet)
Nguồn: Dantri.com.vn

Đọc thêm: 
Chuyện học của “người phi thường” Nguyễn Ngọc Ký   
Chuyện ít biết về “người phi thường” Nguyễn Ngọc Ký

Popular Posts