Showing posts with label TÂM LINH. Show all posts
Showing posts with label TÂM LINH. Show all posts

Thursday, December 13, 2012

So sánh phong tục thờ cúng tổ tiên của Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc

Sự tương đồng và khác biệt trong việc thờ cúng tổ tiên ở ba nước giúp cho ta thấy rõ hơn về sự đa dạng, phong phú trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trên thế giới.
KÍNH NHỚ TỔ TIÊN
TÂM LINH VIỆT
NỀN TẢNG TÂM LINH


Thờ cúng tổ tiên đã trở thành một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam, là một trong các thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên rất giản dị: tin rằng tổ tiên mình là thiêng liêng, họ đi vào cõi vĩnh hằng nhưng vẫn sống cạnh con cháu, họ phù hộ cho con cháu khi gặp tai ách, khó khăn; vui mừng khi con cháu gặp may mắn, khuyến khích cho con cháu khi gặp điều lành và cũng quở trách con cháu khi làm những điều tội lỗi.

Tổ tiên theo quan niệm của người Việt Nam, trước hết là những người cùng huyết thống, như cha, mẹ, ông, bà, cụ, kỵ v.v... là người đã sinh ra mình. Tổ tiên cũng là những người có công tạo dựng nên cuộc sống hiện tại như các vị "Thành hoàng làng" các "Nghệ tổ". Không chỉ thế, tổ tiên còn là những người có công bảo vệ làng xóm, quê hương, đất nước khỏi nạn ngoại xâm như Trần Hưng Đạo đã thành "Cha" được tổ chức cúng, giỗ vào tháng 8 âm lịch hàng năm. "Tháng 8 giỗ cha" ở rất nhiều nơi trong cộng đồng người Việt. Ngay cả "Thành hoàng" của nhiều làng cũng không phải là người đã có công tạo dựng nên làng, mà có khi là người có công, có đức với nước được các cụ xa xưa tôn thờ làm "thành hoàng". Tổ tiên trong tín ngưỡng của người Việt Nam còn là "Mẹ Âu Cơ", còn là "Vua Hùng", là người sinh ra các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam.

Thờ cúng tổ tiên còn là hình thái tín ngưỡng có ý nghĩa lớn về mặt tổ chức cộng đồng trong xã hội truyền thống. Sống trong xã hội, xét theo cả trục dọc và trục ngang, con người không thể sống biệt lập, đơn độc. Theo trục dọc phụ hệ, thờ cúng tổ tiên là sự nối tiếp liên tục các thế hệ: ông bà - cha mẹ - bản thân. Mỗi con người phải có trách nhiệm thờ phụng bốn đời trước: cao, tằng, tổ, khảo (kỵ, cụ, ông, bố) và họ cũng tin rằng sẽ được con cháu bốn đời kế tiếp cúng giỗ. Theo trục ngang, thờ cúng tổ tiên đã gắn bó con người trong mối liên kết dòng họ: họ cha, họ mẹ, họ vợ (hoặc chồng). Với tư cách một tập thể - gồm cả người đang sống và người đã chết gắn bó với nhau về huyết thống và thờ chung một thủy tổ, dòng họ có sức mạnh đảm bảo giá trị tinh thần cho mỗi thành viên của nó trong làng xã.

Cho đến nay, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vẫn còn tồn tại phổ biến ở nhiều khu vực, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia phương Đông, nó đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của nhiều dân tộc, nhiều tộc người. Mặc dù vậy, việc đánh giá vai trò, ý nghĩa của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong từng giai đoạn lịch sử, cũng như ở mỗi quốc gia lại không giống nhau. Ngay việc nhìn nhận thờ cúng tổ tiên là một phong tục, một tin ngưỡng hay một tôn giáo vẫn chưa có sự thống nhất. Hiện nay, vẫn có nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình tín ngưỡng này.

Thông thường tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được hiểu theo hiểu theo hai nghĩa:

*Nghĩa hẹp: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ những người có cùng huyết thống đã mất để tưởng nhớ công sinh thành, nuôi dưỡng.

* Nghĩa rộng: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ có thờ cúng tổ tiên cùng huyết thống trong gia đình, họ tộc, mà còn mở rộng ra thờ cả tổ tiên của làng xã (thành hoàng làng, tổ nghề…), đất nước (Vua Hùng….): “Đạo thờ cúng tổ tiên được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ thờ những người có công sinh dưỡng đã khuất, nghĩa là những người có cùng huyết thống, mà thờ cả những người có công với cộng đồng làng xã, đất nước”[1].

Cũng như nhiều quốc gia phương Đông khác, ở Việt Nam và Hàn Quốc, Nhật Bản tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đều tồn tại ở ba cấp độ: gia đình – làng xã – quốc gia với mức độ đậm nhạt khác nhau. Ở bài viết này, tác giá chỉ xin đề cấp tới vấn đề tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo nghĩa hẹp, ở ba quốc gia Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc thông qua hai vấn đề chính là hình thức thờ cúng và những thời điểm thờ cũng chính...

1. Những hình thức thờ cúng tổ tiên cơ bản

Thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng mà thông qua nghi lễ thờ cúng nhằm xác lập "mối liên hệ" giữa người sống với người chết, giữa người ở thế giới hiện tại và thế giới tâm linh. Là sự thể hiện quan niệm về nhân sinh của người Việt Nam: "sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn". Với người Việt Nam, chết chưa phải là hết, tổ tiên lúc nào cũng ở bên cạnh người sống, "như tại" trên bàn thờ mỗi gia đình, động viên, trợ giúp cho con cháu trong cuộc sống thường ngày. Nếu như tôn giáo thường tuyệt đối hóa đời sống tinh thần, hướng con người về thế giới siêu thoát, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tuy có hướng con người về với quá khứ, song lại rất coi trọng hiện tại và tương lai.

Mang đặc tính của cư dân nông nghiệp đa thần giáo, trong gia đình người ta thường thờ phụng nhiều vị thần. Bên cạnh việc thờ tổ tiên, thờ Phật, người ta còn thờ bà Cô, ông Mãnh (ông Hoàng) là những người thân thích, chết trẻ, hoặc chết vào giờ linh thiêng. Ở một số gia đình, vị trí bàn thờ được sắp xếp theo quy định, ví dụ thờ Thánh sư ở góc nhà, thờ Tiền chủ ở bàn thờ đặt ngoài sân, thờ bà Cô, ông Mãnh ở cạnh thấp hơn bàn thờ tổ tiên.... Trong các vị thần được thờ tại gia, thường không có vị thần nào được sắp xếp ngang hàng với tổ tiên. Thông thường ban thờ được đặt cao ở vị trí trang trọng nhất, gian chính giữa của nhà trên.

Việc bài trí bàn thờ gia tiên thường không giống nhau, điều này phụ thuộc vào quan niệm tâm linh và cả điều kiện kinh tế của gia chủ. Nhìn chung bàn thờ gia tiên nào cũng có một số đồ thờ chủ yếu sau: bài vị, bát hương, đĩa đèn, bình hoa, chén rượu, mâm đựng hoa quả…. Các gia đình bình dân, đồ thờ thường được làm bằng gỗ hoặc sành sứ, còn các gia đình giàu có thế nào cũng có đồ thờ tự bằng đồng. Bàn thờ gia tiên của ngành trưởng phức tạp hơn ngành thứ, của chi trưởng phức tạp hơn chi thứ, gia đình con thứ, con út chỉ thờ vọng nên bài trí bàn thờ cũng đơn giản hơn con trưởng.

Với trách nhiệm thờ phụng nhiều đời: cao, tằng, tổ, khảo, bàn thờ các gia đình chi trưởng, ngành trưởng có đặt các tấm thần chủ được làm bằng gỗ táo (với ý nghĩa cây táo sống nghìn năm) ghi rõ tên tuổi các vị tổ. Trên bàn thờ ở các từ đường dòng họ còn có bài vị Thủy tổ của họ, bài vị có sự chuyển dịch. Khi thờ cúng đến đời thứ năm thì thần chủ của đời này được đem chôn, vì thế mới có câu “Ngũ đại mai thần chủ”. Các thần chủ đời sau được chuyển lên bậc trên, và tấm thần chủ của ông mới nhất được thay vào vị trí “khảo”. Như vậy, các gia đình chi thứ, ngành thứ, các vị tổ đời thứ tư, thứ ba chỉ được thờ vọng, mà chủ yếu thờ hai đời gần nhất (ông bà, cha mẹ).

Ở Nhật Bản: Như ta chúng ta đã biết, đạo Shinto (thần đạo) là tín ngưỡng bản địa của Nhật Bản. Đạo Shinto thờ bách thần và có tác động mạnh mẽ đến đời sống tâm linh của người Nhật Bản. Ngay trong các nghi thức thờ cúng của Shinto cũng bao gồm cả tục thờ cúng tổ tiên. Có những ý kiến của các chuyên gia cho rằng: đạo Shinto là sự biến thái của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trước đó. Có thể nhận thấy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của Nhật Bản mang màu sắc của Thần đạo nhưng ở mức độ đậm nhạt khác nhau. Bên cạnh tín ngưỡng bản địa đó, người Nhật Bản rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên và trong nhà mỗi gia đình Nhật đều có đặt ban thờ để tưởng nhớ và thờ cúng tổ tiên, ông bà đã mất.

Trong các ngôi nhà truyền thống của Nhật Bản bao giờ cũng đặt một gian Bustrudan ở giữa. Đây là gian phòng để thờ Phật nhưng người Nhật cũng đặt một ban thờ để thờ cúng tổ tiên. Ngoài việc thiết lập các ban thờ tại gia, hầu hết các gia đình Nhật Bản có gửi tro cốt của những người đã khuất tại chùa. Do đó, bên cạnh việc thực hiện nghi thức cúng tế tổ tiên tại nhà họ cũng tổ chức làm lễ cúng tại chùa. Các nghi thức cúng tế tổ tiên tại chùa được các nhà sư thực hiện dựa trên yêu cầu của thân chủ. Tại các gia đình, vào ngày giỗ, họ dâng đồ cúng và đọc kinh trước ban thờ Phật và ban thờ tổ tiên.

Do người Nhật có đặc trưng là cùng một lúc theo nhiều tôn giáo, nên trong cuộc đời của mỗi cá nhân, họ đều tham gia vào những hành vi tôn giáo khác nhau. Chẳng hạn, khi mới sinh ra, họ được cha mẹ đưa đến đền thờ Thần đạo làm lễ để hiến cho các vị thần; khi trưởng thành họ cũng làm lễ tại các đền thờ Thần đạo; khi thành hôn họ tổ chức theo nghi lễ Thần đạo, nhưng ngày cưới lại được chọn theo quan niệm của Đạo giáo; ứng xử giữa các thành viên trong gia đình lại theo quy tắc của Nho giáo; khi mất đi, họ tổ chức tang ma theo nghi thức của Phật giáo. Người đã mất được đặt một pháp danh theo đạo Phật và được ghi trên bài vị được đặt ở gian Butsuda của mỗi gia đình. Sau 49 ngày, gia đình làm lễ cử tang và từ lúc này, người vừa khuất được xếp vào hàng ngũ của các vị tổ tiên. Từ đó, người ta làm lễ giỗ hàng năm, cho đến lễ giỗ thứ 33 thì họ không thực hiện nghi thức cúng tế người đó nữa. Theo quan niệm của người Nhật, sau 33 lần giỗ, người chết đã đi vào cõi vĩnh hằng.

Ở Hàn Quốc: sau khi triều đại Koryo sụp đổ và triều đại Shoson được thiết lập vào năm 1932, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thực sự có sự biến đổi mạnh mẽ. Cũng bắt đầu từ đó, cuộc sống của người dân Hàn Quốc được chỉ đạo bởi các nguyên tắc của Tống Nho. Những nguyễn tắc của Tống Nho đã ổn định luật lệ xã hội, coi trọng sự hiếu thảo với cha mẹ và lấy đó làm đức tính cơ bản, đặc biệt, các quy tắc đó nhấn mạnh phép tắc trong mối quan hệ xã hội và luôn đề cao việc thờ cúng tổ tiên trong mỗi gia đình.

Những hình thức thờ cúng mà qua đó thể hiện sự tưởng nhớ, tôn kính đối với tổ tiên được người Hàn gọi chung là Chesa. Các nghi lễ này mang trọn giá trị tinh thần của người Hàn Quốc, nó nhấn mạnh trật tự từ trên xuống dưới, từ người đã chết đến những người nối dõi; là sự xác nhận quan hệ huyết thống giữa người sống và người chết.

Căn cứ vào hình thức và đối tượng được thờ cúng của người Hàn, có thể thia làm ba hình thức thờ cúng tổ tiên cơ bản sau:

- Kije: nghi lễ nhằm tưởng nhớ những người mới mất.

- Ch’arye: lễ tưởng nhớ những người thân trong gia đình đã mất. Nghi lễ này được thực hiện vào buổi sáng của những ngày lễ đặc biệt nào đó.

- Myojje: lễ tưởng nhớ bên mộ. Nghi lễ này được thực hiện khi tiến hành thăm viếng mộ tổ tiên, ông bà.

Trong các loại nghi lễ trên, lễ Keji và Ch”arye thường được tổ chức long trọng, cầu kì tại nhà. Vào ngày đó, người ta phải dâng đồ cúng lên tổ tiên một cách cung kính, chu đáo. Việc sắp xếp đồ lễ trên ban thờ đòi hỏi phải có một trật tự nhất định. Chẳng hạn, những đồ hoa quả có màu đỏ phải xếp riêng ở phía Đông, đến những hoa quả có màu trắng phải xếp ở phía Tây của bàn thờ. Tiếp theo đó là một hàng thức ăn, rồi đến hoa quả, rau, cháo đặc và một số loại thịt cá. Cuối cùng là những bát cơm, hoặc đôi khi là cháo cùng với thìa và đũa. Phía trước bàn thờ bày đồ cúng là một bàn để bát nhang và trước bát nhanh là khay rượu.

Nghi lễ Keji là lễ giỗ tổ tiên. Theo lệ cũ, nghi lễ này được thực hiện theo quy cách truyền thống, nghĩa là thực hiện vào nửa đêm trước ngày giỗ. Chỉ có một số tổ tiên được thờ cúng trong lễ Keji.

Lễ Ch’arye là nghi lễ tưởng nhớ tổ tiên ở bốn thế hệ gần nhất, nghĩa là từ đời thứ tư trở lại đến ông bà bố mẹ. Từ đời thứ năm được cúng tế tại mộ hàng năm. Đồ cúng trong nghi lễ này cũng giống như lễ Keji. Nghi lễ này được thực hiện vào sáng sớm của những ngày lễ đặc biệt. Phần lớn gia đình chỉ thực hiện lễ này hai lần trong năm: vào dịp tết năm mới và tết trung thu. Tuy nhiên, cũng có những gia đình thực hiện nghi lễ này vào ngày thức ăn lạnh (105 ngày sau Đông Chí) và ngày 5 tháng 5 âm lịch hàng năm.

Vật thờ cúng chủ đạo trong hai lễ trên là một tấm bảng gỗ gọi là Shinjju, nhưng ngày nay, người ta thường thay vào đó là một tờ giấy có sẵn gọi là Chibang – trên đó có ghi họ tên, chức vụ, vị trí của người được cúng tổ tiên. Tờ giấy này được dán lên tường hoặc một tấm đá phía sau ban thờ và sẽ được hóa vào cuối buổi lễ.

Ngoài hai lễ trên được làm tại gia đình với sự cầu kì, phức tạp thì còn có lễ Myoje. Nghi lễ này được thực hiện trước phần mộ của người đã khuất vào dịp tháng 10 âm lịch. Trước kia, lễ Myojje là lễ hội quan trọng mang tầm cỡ quốc gia và người thường mất nhiều thời gian cho lễ này. Ngày nay, việc đi thăm mộ tổ tiên vào dịp lễ Chusok đã trở thành một tập quán mới. Trong nghi lễ này, họ chỉ dâng cúng tổ tiên một số đồ ăn đơn giản cùng với rượu.

2. Những thời điểm thờ cúng tổ tiên

2.1. Có thể nói tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên luôn được người Nhật Bản tôn kính và coi trọng. Tuy có nhiều nét tương đồng với Trung Quốc, Hàn Quốc hay Việt Nam, nhưng việc cúng tế ở Nhật Bản cũng có những nét riêng biệt, việc cúng tế tổ tiên thường xuyên diễn ra; ở Nhật Bản do đặc điểm tôn giáo, tín ngưỡng riêng của mình mà lễ cúng tổ tiên chỉ được hiện vào một dịp nhất định trong năm. Cho đến nay, người dân Nhật Bản thường tập trung tiến hành nghi thức cúng tế tổ tiên vào nhiều dịp nhưng bài viết chỉ đề cập đến 3 dịp quan trọng nhất trong năm như:

Ngày giỗ: không như các nước phương Tây là coi trọng ngày sinh, hầu hết các nước ở khu vực Đông Nam Á và Bắc Á lại coi trọng ngày mất của những người thân trong gia đình, dòng họ. Vì thế, ngày mất được chọn là ngày giỗ để tưởng nhớ về tổ tiên đã khuất. Theo nhiều tài liệu ghi chép lại, tục cúng tổ tiên Nhật Bản đã có từ lâu, nhưng nó được tiến hành khá đơn giả, không phức tạp, cầu kì và thời gian đầu của tục thờ cúng tổ tiên hầu hết các nghi thức cúng tế đều mang tính chất của đạo Shinto: “Ở Nhật Bản việc cúng giỗ trong gia đình rất đơn giản, nhưng cũng rất trang nghiêm. Vào ngày giỗ, mọi người trong gia đình phải tắm rửa sạch sẽ, làm lễ tẩy uế bằng cách vẩy nước (mishoghi)[2] hoặc khua một cành cây xanh (sakagi) hoặc khua đũa thờ (musa). Những động tác này làm ở ngoài cửa. Không lập các đàn tế cầu kỳ như ở Trung Hoa, có chăng chỉ là một tấm bài vị ghi tên cha mẹ, tổ tiên đã mất hoặc bầy một chậu cây, một phiến đá tượng trưng cho những kỉ niệm về người đã khuất”[3].

Tuy nhiên, khi Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản, các nghi thức cúng tế của đạo Phật cũng đã ảnh hưởng đến các nghi lễ giỗ tổ tiên của người Nhật. Lúc này, lễ giỗ tổ tiên không chỉ được tiến hành tại nhà mà đôi khi có thể được làm tại chùa. Đây là một sự thay đổi lớn so với trước kia.

Những lễ vật thờ cúng dành cho nghi lễ cúng tế trong ngày giỗ tổ nói chung thường có cơm trắng, gạo, hoa quả, nước, muối, các đồ hải sản. Cũng có những vùng họ cúng cá, chim, gà. Tất cả những con vật này đều còn sống. Theo tục lệ, người Nhật không sát sinh trong ngày giỗ tổ tiên. Họ quan niệm, máu là sự ô uế, do đó, trong các nghi thức cúng tế tuyệt đối không sát sinh.

Ngày Tết: Ngày tết cổ truyền của Nhật Bản diễn ra vào những ngày đầu thàng giêng âm lịch. Đây là dịp diễn ra lễ hội lớn nhất trong năm và quan trọng nhất với mỗi gia đình Nhật Bản. Đó cũng là dịp để các thành viên trong gia đình có điều kiện đoàn tụ, sum họp. Vào thời điểm trước Tết, tại các đền thờ Shinto, các vị thầy tu làm lễ thanh tẩy những uế tạp của năm cũ cho dân chúng, còn trong mỗi ngôi nhà, chủ nhân của chúng lại dọn dẹp, trang hoàng lại cho mới hơn. Trong mối gia đình, người ta cũng làm lễ thanh tẩy nhưng mang tính chất tượng trưng. Ngoài ra, họ còn cắm những cành thông lên cổng và bện những dây rơm hoặc giấy treo trên lối vào nhà.

Đêm giao thừa là thời khắc quan trọng của ngày Tết, những người trong gia đình tập trung lại và tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên và những người thân đã mất. Vào đêm giao thừa, theo truyền thống, các gia đình Nhật Bản cũng sắm sửa một mâm lễ thật thịnh soạn với món chủ đạo là các món nướng đặc biệt và bánh mạch nha (O-mochi), cùng với một số đồ lễ khác. Người chủ gia đình đặt mâm gỗ trước ban thờ và khấn mời tổ tiên về ăn Tết với con cháu. Sau khi cúng xong, mọi người cùng thưởng thức các món ăn và trò chuyện vui vẻ cho đến giờ trừ tịch[4] mới thôi. Và cũng như người Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc, người Nhật Bản vẫn tin tưởng rằng với khả năng thần bí và siêu nhiên tổ tiên của họ sẽ luôn phù trợ cho con cháu của mình được hạnh phúc, may mắn trong năm mới.

Lễ hội Obon: Theo quan niệm của Phật giáo thì lễ Obon là dịp xá tội vong nhân, là lúc cửa ngục âm phủ mở để các vong hồn được về thăm người thân nơi trần thế. Vì thế, ở những nơi chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam ….người dân đều rất coi trọng việc tổ chức nghi lễ cúng vong hồn người đã khuất trong gia đình, dòng họ.

Lễ Obon được tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 13 -17 tháng 7 âm lịch hàng năm. Vào dịp này, các gia đình đốt lửa hoặc treo đèn lồng trước lối vào để dẫn các linh hồn biết lối về. Lễ Obon tiến hành tại các gia đình mang tính chất thờ cúng tổ tiên nhiều hơn là lễ xá tội vong nhân: “Linh hồn được cúng tế trong lễ Obon trước hết là tổ tiên, nhất là linh hồn những người mới khuất và những hồn ma không có người thân chăm sóc”[5]. Tuy vậy, ở mỗi địa phương lại có sự tổ chức lễ Obon khác nhau. Về cơ bản, lễ Obon cũng mang ý nghĩa như lễ năm mới, cũng là thời gian mời thần, Phật và tổ tiên về nhà; là dịp chủ nhân tiến hành các nghi thức cúng tế và thết đãi của vị thần, vong linh tổ tiên những món ăn ngon theo truyền thống với thái độ tôn kính và thân tình. Tuy lễ hội Obon có liên quan đến cái chết, vong hồn… nhưng lại được tổ chức đón các linh hồn bằng màn múa hát nhộn nhịp do các đoàn biểu diễn các trò diễn dân gian của địa phương trình diễn.

Trong dịp này, các gia đình Nhật Bản dọn dẹp sạch sẽ và bày biện trên đó các đồ lễ, gia chủ còn làm cỗ mời đón tổ tiên ở gian Butsudan tại nhà. Vào ngày này, các thành viên trong gia đình còn đi thăm mộ của ông bà tổ tiên và người thân, họ dọn cỏ và trồng hoa mới cho các ngôi mộ.

Lễ tiễn hồn là nghi thức cuối cùng của lễ hội Obon. Người ta đốt lửa tiễn trước cổng nhà, thả đồ cúng và cả những cây đèn lồng xuống sông, biển. Mọi người đều tin rằng các linh hồn sẽ theo ánh sáng của các đèn lồng tìm về miền cực lạc.

2.2.Tín ngưỡng bản địa của người Hàn Quốc là đạo Shaman. Theo quan niệm của người Hàn Quốc thì các vị thần Shaman ngự trị khắp nơi trong căn nhà của họ: “các thần bay lượn khắp xung quanh và là một phần quan trọng trong cuộc sống của người Hàn giống như gạo và Kim chi”[6]. Hàng ngày, người Hàn Quốc vẫn làm lễ Kosa để thờ cúng các vị thần, cầu xin họ ban phúc. Việc cúng tế tổ tiên ở Hàn Quốc lại chỉ mang tính tưởng nhớ nên nó diễn ra không thường xuyên mà chỉ được thực hiện ở một số dịp nhất định trong năm như:

Ngày giỗ: ở Hàn Quốc, ngày là lễ giỗ được gọi là Kije, được thực hiện đúng ngày mất với mục đích tưởng nhớ người đã mất. Trước đây, nghi lễ này được thực hiện vào nửa đêm trước ngày giỗ. Ngày nay, có rất nhiều gia đình đã chuyển sang làm giỗ vào sang sớm. Vào ngày ngày giỗ, các gia đình Hàn Quốc làm mâm cỗ cúng thịnh soạn.Trên bàn thờ bày biện các món ăn đặc biệt, hoa quả trước bài vị của người của người đã mất. Điều đặc biệt của nghi lễ này là người thực hành nghi lễ là những người đàn ông trong gia đình (kể con rể cũng được thực hành các nghi thức cúng tế trong nhà vợ). Sau khi hành lễ xong, mọi thành viên trong gia đình cùng tập trung ăn uống.Người Hàn Quốc quan niệm rằng: khi ăn uống những thức ăn dùng để cúng ông bà tổ tiên sẽ luôn được tổ tiên phù hộ, và gặp may mắn.

Ngày Tết cổ truyền:là thời điểm quan trọng nhất đối với người dân Hàn Quốc.Vào ngày này, họ làm lễ Cha’rye để tưởng nhớ về tổ tiên của gia đình. Họ chuẩn bị mọi thứ rất công phu và được bày biện lên ban thờ theo một quy tắc nhất định.Buổi lễ kết thúc khi người đàn ông cuối cùng hành lễ xong. Sau đó gia đình cùng thụ lễ và nói chuyện về truyền thống tốt đẹp của gia đình. Trong dịp Tết cổ truyền này, người dân Hàn Quốc cũng tổ chức viếng mộ tổ tiên. Nếu như lễ cúng tổ tiên tại nhà thường để cúng tổ tiên ở bốn đời gần nhất, từ đời thứ năm trở về trước được cúng tại mổ tổ mỗi năm một lần.

Ngày thức ăn lạnh (Hansic): là ngày thứ 105 sau ngày Đông chí, thường rơi vào khoảng đầu tháng 3 âm lịch. Vào ngày này, người Hàn Quốc chuẩn bị đồ cúng như rượu, hoa quả, rau, bánh, gạo, thịt, cá và nhiều loại thức ăn nữa để cúng tổ tiên.

Ngày 15 tháng 7 âm lịch: được coi là ngày trở về của các linh hồn đã khuất. Ở Việt Nam, Nhật Bản gọi là ngày xá tội vong nhân, trong tiếng Hàn cũng có nghĩa tương tự như vậy.

Ngày rằm tháng tám: Chusok – lễ hội mùa trăng): là dịp thờ cúng tổ tiên lớn nhất trong năm của người dân Hàn Quốc. Vào dịp này, mọi người đi làm xa đều cố gắng thu xếp công việc quay trở về gia đình để tham nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Đây là dịp để mọi người tập trung tại nhà người con trai trưởng và tổ chức một bữa tiệc lớn nhằm kỉ niệm một vụ mùa bội thu và quan trọng hơn cả là tưởng nhớ đền tổ tiên vì họ đã phù hộ cho con cháu trong năm qua.Trong ngày đầu tiên của dịp lễ, người ta sẽ dâng lên tổ tiên những sản phẩm của vụ mùa vừa thu hoạch. Họ thành kính dâng lên tổ tiên những đồ cúng bằng rượu, hoa quả, bánh chay và những loại hạt mới được thu hoạch như hạt dẻ, táo, hồng, và lê…Một loại bánh đặc trưng nhất trong ngày lễ này là bánh bột gạo hình bán nguyệt Songp’yon. Loại bánh này được làm từ gạo mùa mới xay nhỏ, mịn, mềm. Bên trong bánh có nhân đậu đỏ, vừng, hạt dẻ và được hấp trên lá cây thông mới hái.

Cũng trong dịp này, người Hàn Quốc cũng đi thăm viếng mộ, tỏ lòng thành kính với tổ tiên bằng việc dâng đồ cúng và thực hành nghi thức vái tạ. Vào dịp này, người ta còn tổ chức tu sửa mộ với mong muốn làm đẹp, sạch sẽ nơi an nghỉ của tổ tiên.

2.3. Trong tục thờ cúng tổ tiên, người Việt coi trọng việc cúng giỗ vào ngày mất (còn gọi là kỵ nhật) thường được tính theo âm lịch (hay còn gọi là ngày ta). Họ tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng. Không chỉ ngày giỗ, việc cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mồng một (còn gọi là ngày sóc), ngày rằm (còn gọi là ngày vọng), và các dịp lễ Tết khác trong một năm như: Tết Nguyên đán, Tết Hàn thực, Tết Trung thu, Tết Trùng cửu, Tết Trùng thập... Những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử..., người Việt cũng dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công. Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau. Con cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân. Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm.

Ngày giỗ (kỵ nhật) là ngày kỷ niệm ngày mất của người thân trong gia đình hàng năm thường được tính theo âm lịch (hay còn gọi là ngày ta). Trong các ngày giỗ có ba ngày chú ý nhất: tiểu tường (giỗ đầu), đại tường (giỗ hết), trừ phục (lễ cởi bỏ đồ tang). Các ngày giỗ thường kỳ trong các năm sau được coi là cát kỵ (giỗ lành).

Trước lễ Tiểu tường, nhiều gia đình còn làm lễ Tiên thường (cáo giỗ) nhằm xin phép Thổ công để linh hồn người đã mất trở về gia đình nhận giỗ. Đồ lễ cúng trong giỗ đầu và giỗ hết phải chuẩn bị rất chu đáo. Theo quy định xưa, vào ngày giỗ đầu, trang phục tang lễ mũ gậy, áo xô lại được con cháu mang ra mặc. Đồ mã được gửi cho người chết cũng theo quy định: ở lễ tiểu đường đó là “mã biếu” vì người chết phải sử dụng để biếu các ác thần mong tránh sự quấy nhiễu (dân gian quan niệm cõi âm như cõi trần), ở lễ Đại tường và lễ Trừ phục (một ngày tốt được chọn sau lễ Đại tường để đốt bỏ tang phục) đồ mã còn cần nhiều hơn: mọi vật dụng sinh hoạt cho người chết ( quần áo, giầy dép, xe cộ), thậm chí cả các hình nhân bằng giấy để xuống cõi âm phục vụ cho họ. Sau khi hóa (đốt) những đồ mã này, đổ một chén rượu lên đống tàn vàng để vật mã trở thành vật thật, tiền thật dưới cõi âm. Người ta còn hơ một chiếc đòn gánh, gậy trên ngọn lửa hóa vàng, hoặc dựng một cây mía bên cạnh với lời giải thích “để các cụ gánh vác về”.

Đây là một lễ vô cùng quan trọng, bởi nhớ đến ông bà tổ tiên là đã thể hiện lòng thành kính với vong linh người đã khuất, không phụ thuộc vào việc làm giỗ lớn hay nhỏ. Chỉ với chén nước, quả trứng, nén hương cũng giữ được đạo hiếu.

Sau khi cúng giỗ, gia đình thường dọn thức ăn vừa cúng xong để cùng ăn, coi như hưởng lộc của tiền nhân. Bạn bè thân thuộc cũng được mời đến dùng bữa, tức là đi ăn giỗ.

Bên cạnh các nghi lễ cúng tế trong gia đình và gia tộc còn phải kể thêm vào hệ thống nghi thức tế lễ tổ tiên một hình thức Tảo mộ. Ngoài việc đắp thêm mộ trong ba ngày (sau khi người thân chết), các gia đình, dòng họ thường đi thăm mộ, cúng tế sửa sang mồ mả vào dịp Tết Thanh minh tháng ba. Việc cúng tế tại mộ thường diễn ra đơn giản hơn nhiều so với cúng tại nhà, nhưng trước khi cúng trước mộ người thân người ta phải khấn cáo xin phép thổ công. Thăm nom sang sửa mồ mả tổ tiên, một mặt là hình thức thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu, mặt khác bởi quan niệm mồ mả vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của cả gia đình, gia tộc. Người Việt cho rằng, nếu vị trí đặt mồ mả không tốt, hướng không đúng thì con cháu làm ăn sẽ lụi bại, không thể nào phát triển được.

* * *

Qua việc tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở ba nước Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc có thể thấy rằng: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giữa ba nước có những điểm tương đồng và khác biệt. Đó là việc để cao tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, bởi nó thể hiện đạo lí nhớ về tổ tông, nguồn cội của mỗi con người. Song việc thờ cúng ở Nhật Bản và Hàn Quốc lại không diễn ra thường xuyên như ở Việt Nam mà chỉ được thực hiện ở những dịp nhất định trong năm (như ngày giỗ, ngày xá tội vong nhân, rằm trung thu…). Trong việc thực hiện các nghi thức cúng tế lại có nét tương đồng ở chỗ: những người tham gia thực hành nghi lễ chủ yếu là nam giới, tuy nhiên, ở Việt Nam, người con rể thường không tham gia nghi thức cúng tế tổ tiên tại nhà vợ như ở Hàn Quốc. Việc bài trí trên bàn thờ tại Việt Nam có phần giản đơn hơn so với Hàn Quốc và Nhật Bản. …

Tóm tại, Sự tương đồng và khác biệt trong việc thờ cúng tổ tiên ở ba nước giúp cho ta thấy rõ hơn về sự đa dạng, phong phú trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trên thế giới.

VŨ HOA NGỌC (Viện VHNTVN) 
Theo reds.vn

3. KHOA HÌNH HỌC CỦA NGƯỜI XƯA

Ở cõi trần, tâm thức con người bị giới hạn bởi ba chiều không gian. Thật ra có nhiều chiều nữa mà ta không nhìn thấy. Khối óc của ta chỉ chấp nhận chiều dài, chiều ngang và chiều đứng mà thôi. Dĩ nhiên, mọi sự đi đứng, di chuyển cũng chỉ giới hạn trong ba chiều này. Nếu nói có một chiều đo thứ tư thẳng góc với ba chiều này thì chúng ta sẽ không thể tưởng tượng nổi. Nhưng không thấy được, đâu có nghĩa là nó không hiện hữu?
Muốn tìm hiểu chiều đo thứ tư này, ta cần dùng đến sự so sánh. Thí dụ có một con kiến đang bò trên một tờ giấy phẳng. Giả thuyết rằng con kiến không thể rời khỏi tờ giấy này được nên thế giới của nó chỉ là một mặt phẳng giới hạn trong hai bề đo. Dù nó biết suy luận nó cũng không thể quan niệm được bề đo thứ ba tức là bề đứng. Từ không gian ba chiều của chúng ta, ta có thể làm nhiều điều tầm thường mà con kiến cho là một phép lạ thí dụ như ta để một hạt thóc lên tờ giấy. Con kiến không thể hiểu hạt thóc từ đâu xuất hiện vì giới hạn trong hai bề đo của tờ giấy, nó nghĩ rằng mọi vật phải đến từ tờ giấy chứ không thể ở một cõi nào đó. Nếu con kiến muốn đi từ đầu giấy đến cuối, nó phải bò suốt chiều dài tấm giấy. Ðối với chúng ta, vì biết chiều đo thứ ba, ta có thể gấp tờ giấy lại để hai góc tờ giấy chạm vào nhau, con kiến chỉ cần nhúc nhích đã đi đến cuối tờ giấy. Nó không thể hiểu tại sao quãng đường dài bỗng biến mất, dĩ nhiên đối với ta việc này đâu có gì lạ. Vấn đề này có thể dùng để diễn tả thuật "Rút đất" của các Lạt Ma Tây Tạng. Một khi đã hiểu chiều đo thứ tư, mọi hiện tượng cõi âm đều có thể giải thích hết sức dễ dàng, khoa học.
Chúng ta đều biết đường thẳng được tạo ra bởi một điểm kéo dài theo một chiều nhất định. Nếu ta di chuyển một cái chấm khoảng 2 thước thì ta có đường thẳng dài 2 thước. Nếu ta tiếp tục di chuyển chấm ấy một khoảng cách 2 thước nhưng thẳng góc với đường cũ cho đến khi trở về khởi điểm thì ta sẽ có một hình vuông.  Hình vuông có thể diễn tả bằng con số 2 bình phương theo toán học. Ðây là hình học mặt phẳng chứ không có gì lạ. Nếu ta tiếp tục di chuyển theo chiều đứng, thẳng góc với hình vuông cũ thì ta sẽ có một khối vuông (Cubic). Khối vuông có thể diễn tả bằng con số 2 tam thừa. Tóm lại ta có 3 hình: Ðường thẳng, hình vuông và khối vuông tương ứng với số 2, 2 bình phương, 2 tam thừa.
Hình học không gian ngừng ở đây, không đi xa nữa vì ta chỉ biết có 3 chiều mà thôi, nhưng toán học cho biết có thể có 2 tứ thừa, 2 lũy thừa năm, 2 lũy thừa sáu và nhiều nữa. Các con số toán học này đều có hình tương ứng trên phương diện hình học và tương ứng với 2 lũy thừa bốn hay bề đo thứ tư là chìa khóa vào cõi âm. Khoa Hình học cổ của Ai Cập không những chứng minh được mà còn có các dụng cụ để đo lường chiều thứ tư này. Trở về hình học phẳng, ta sử dụng thước kẻ để đo chiều dài. Ðể đo hình vuông ta sử dụng một thước khác gọi là thước vuông vì loại thước kẻ không thể đo góc vuông được. Cũng thế khi bước sang hình học không gian ta không thể dùng thước vuông vì hình vuông theo định nghĩa không có bề đứng, không thể đo hình khối được. Nếu di chuyển hình khối theo chiều đo thứ tư ta sẽ có hình gì? Dĩ nhiên ta không tưởng tượng được. Hình học Ai Cập cho biết nó là một hình bốn bề, có 16 góc, 32 cạnh và 24 mặt được giới hạn bởi 8 hình khối (Hình khối chỉ có 6 mặt 12 cạnh và 8 góc). Ngày nào khoa học chứng minh được hình này là họ mở cửa vào được chiều đo thứ tư. Toán học cho biết 2 lũy thừa bốn rất dễ chứng minh và từ toán học áp dụng để xây Kim Tự Tháp, đem các tảng đá vạn cân lên cao. Môn học này đã thất truyền trong quá khứ nhưng di tích của nó vẫn được ghi khắc trên những biểu tượng tại Kim Tự Tháp.
Khi vén màn vào chiều đo thứ tư, sự phát minh khoa học ngày nay chỉ là mảnh vụn, không đáng kể. Con người có thể du lịch khắp không gian và có quyền năng ngoài sự hiểu biết của người hiện tại. Trong thời buổi vàng son, dân Ai Cập đã đi khắp không gian, đến những giải ngân hà xa lạ nhưng tiếc thay sự giao tiếp với cõi âm của chiều đo thứ tư đem lại các hiểm nguy mà họ không biết. Chính vì thế nền văn minh này đã sụp đổ, biến mất trên mặt địa cầu chỉ vì thiếu một nền tảng trí tuệ sáng suốt, không biết phân biệt chân giả. Từ ngàn xưa, các bậc trưởng lão đã nhắn nhủ rằng sự tiến bộ phải song song với trí tuệ và chỉ khi trí tuệ khai mở con người mới đủ khả năng phân biệt hư thực, xé bỏ các mê lầm của vô minh. Tiếc thay các nhà lãnh đạo Ai Cập không nhận thức điều này nên mới xảy ra những điều đáng tiếc.
Khoảng 8 ngàn năm trước họ đã ở những xã hội hơn hẳn những xã hội tân tiến, văn minh nhất bây giờ bằng cớ là ngày nay, đã ai xây nổi Kim Tự Tháp chưa? Còn nhiều vấn đề thần bí khác mà một ngày nào đó khoa học sẽ khám phá?.
Ai Cập đã để lại những Kim Tự Tháp hùng vĩ, kiến thức vĩ đại vào mục đích gì? Ða số người Âu cho rằng đó là một tàng trữ thi hài những vua Pharaoh, có như vậy chăng? Tại sao triều đại Pharaoh có cả trăm vua chúa mà chỉ có vài vị cho xây Kim Tự Tháp? Nhưng người ta đâu có tìm thấy thi thể vua chúa nào trong Kim Tự Tháp đâu? Hơn nữa, trong Kim Tự Tháp làm gì có ám tự hay tranh ảnh nói về một cá nhân ông vua nào đâu? Chỉ có những nấm mồ đào được chôn sâu dưới đất mới có các xác ướp và tranh vẽ thôi, điều này thế nào? Tại sao các nấm mồ trong lòng đất có khắc ký hiệu, ám tự, hình vẽ mà trong Kim Tự Tháp lại trống trơn? Dĩ nhiên quan niệm thông thường không thể hiểu nổi, nếu chúng ta hiểu chiều đo thứ tư thì chúng ta sẽ không nhìn Kim Tự Tháp như một hình khối ba chiều.
TTđTDTrích: Hành Trình Về Phương Đông

KHOA HỌC VỀ THỞ

2. Chiêm tinh học và đời người 
3. Khoa hình học của Người xưa
Yoga là khoa học của vũ trụ. Luật thiên nhiên định rằng trung bình con người thở với số nhịp là 21.600 lần mỗi ngày. Sự hô hấp quá nhanh làm gia tăng nhịp điệu nói trên và thu ngắn sự sống. Sự hô hấp chậm rãi, kéo dài, đều đặn là tiết kiệm sinh lực và kéo dài sự sống, đó là bí quyết khoa Khí công.
Mỗi hơi thở tiết kiệm sẽ tích tụ lại thành một số dự trữ giúp ta kéo dài sự sống. Các đồ ăn có chất kích thích hay hút thuốc làm cho hơi thở dồn dập, giảm số lượng dưỡng khí vào phổi, tất nhiên làm ta giảm thọ nhanh. Khoa Yoga ý thức rất rõ sự liên quan chặt chẽ giữa cơ quan hô hấp và tuần hoàn. Cả hai cơ quan này liên hệ mật thiết với hệ thần kinh. Bộ thần kinh là chìa khoá vào cánh cửa tâm linh, do đó, hơi thở chính là lối vào tinh thần. Nhưng hơi thở chỉ là sự biểu lộ trên địa hạt vật chất của một sức mạnh tế nhị hơn. Sức mạnh này mới là cột trụ sinh hoạt xác thể, và chính cái sức mạnh vô hình, vô ảnh ẩn tàng trong cơ thể chúng ta mới thực sự điều khiển đời sống. Khi nó rời xác thân thì hơi thở ngừng lại và sự chết đến. Sự kiểm soát hơi thở giúp ta làm chủ một phần nào luồng sinh lực vô hình này. Khi sự chủ trị thân xác được thực hiện đến mức cao siêu, con người sẽ kiểm soát được sự vận động các cơ quan trong thân thể như tim, gan, bao tử, phổi…
Con voi thở chậm hơn con khỉ do đó nó sống lâu hơn. Quan sát lối hô hấp loài vật như con rắn chẳng hạn, nó thở rất chậm nên sống lâu hơn con chó. Nếu nghiên cứu kỹ, ta sẽ thấy sự liên hệ mầu nhiệm giữa hơi thở và sự sống lâu. Một kẻ sống đời êm đềm, sống lâu hơn người có đời sống vội vã, náo nhiệt. Có các giống dơi ngủ suốt mùa đông. Chúng treo cẳng trên vách đá ngưng thở nhiều tháng, và chỉ tỉnh giấc khi xuân đến. Con gấu cũng ngủ suốt mùa đông như thế. Tại sao loài vật làm được mà loài người lại không làm được? Đó đâu phải phản khoa học hay phản thiên nhiên. Vì các khoa học gia kết luận rằng điều này không thể xảy ra nên không bao giờ họ nhìn thêm điều gì nữa. Đối với người Phương Đông, bất cứ việc gì cũng có thể xảy ra và thiên nhiên là ông thầy rất tốt. 
Nếu luyện tập pháp môn này đến mức cao siêu, ta có thể thắng đoạt tử thần. Ngưng thở là chết, và nếu ta giữ được hơi thở thì ta bảo tồn sự sống. Một Đạo Sư có thể cầm giữ hơi thở không những trong nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm và nhiều thế kỷ, tức là họ có thể kéo dài sự sống theo ý muốn. Ý thức rằng hơi thở ở đâu tức là sự sống ở đó. Khi lên dãy Hy Mã Lạp Sơn, chúng ta sẽ gặp những người này và điều này không lạ lùng như ta nghĩ. Khoa Yoga chân truyền có thể đem lại nhiều quyền năng bất ngờ, lạ lùng, nhưng đã mấy ai khổ công tập luyện. Trong thời buổi điên đảo hiện nay, con người mê mải trong danh lợi, phù phiếm, các ảo ảnh cuộc đời, làm gì có thì giờ suy nghĩ đến sinh hoạt tâm linh. Đó cũng là lý do những người thực sự mong muốn một trạng thái tâm linh thường ẩn mình nơi hoang vắng, các bậc đó không bao giờ phải đi tìm đồ đệ mà người tìm đạo phải đi kiếm các Ngài… 
Có ba phương pháp kéo dài sự sống. Phương pháp thứ nhất là luyện tập tất cả các tư thế cùng với môn khí công bí truyền cho thật thuần thục tuyệt hảo. Phương pháp này chỉ có thể thực hiện dưới sự chỉ dẫn của một vị danh sư đã có kinh nghiệm vì sai một ly đi một dặm, đó là chưa kể người tập phải có một nếp sống tinh khiết, trong sạch hoàn toàn. Một ý niệm xấu khi thiền định có thể làm loạn động hơi thở đưa đến tình trạng “tẩu hoả nhập ma”, điên loạn hoặc chết ngay. Phương pháp thứ hai là sử dụng dược chất, pha chế các loại thuốc đặc biệt các loại cây cỏ hiếm hoi, phương pháp này cũng chỉ một thiểu số biết cách bào chế và chỉ truyền lại cho các đệ tử riêng. Phương pháp luyện đơn này chỉ được dùng trong trường hợp đặc biệt vì nó có các hiệu quả không thể lường được. Phương pháp thứ ba là lối mở các kinh kỳ bát mạch, sinh tử huyền quan rất khó giải thích theo khoa học thực nghiệm. Trong óc con người có một lỗ trống rất nhỏ nằm sâu bên trong, và có một nắp đậy bên ngoài . Nơi cuối cùng của đốt xương sống là sào huyệt của luồng hoả hầu Kundalini. Sự truỵ lạc, trác táng làm tiêu hao sinh lực, khiến con người trở nên già nua, cằn cỗi. Trái lại, nếu biết kiểm soát ta có thể tiết kiệm sinh lực. Khi một người làm chủ toàn xác thân, y sẽ kiểm soát được luồng hoả hầu này. Chỉ những đạo sĩ Yogi thượng thặng mới dám luyện tập đến luồng hoả hầu, khiến nó thức tỉnh đi ngược lên trên theo xương sống khai mở các bí huyệt, các trung tâm quan trọng nằm dọc theo lộ trình. Khi mở được nắp đậy lỗ hổng ngay trong óc để luồng hoả hầu Kundalini chui vào cư ngụ nơi đây, ta sẽ khai mở nhiều quyền năng, cải lão hoàn đồng kéo dài sự sống. Sự khó khăn nhất là việc mở được cái nắp đậy trên óc, việc này có khi cần sự trợ giúp của một danh sư sử dụng nội lực giúp y đả thông kinh kỳ bách mạch. Việc này rất khó vì kẻ táo bạo luyện công dễ mất mạng như chơi. Người thành công có thể kéo dài sự sống như ý muốn và khi chết thể xác họ vẫn tươi tốt như khi còn sống, và không hề hư hại… 
Ai bảo mục đích Yoga là cầu sống lâu? Sống khổ hạnh mà không có ý nghĩa để làm gì? Phần lớn các đạo sĩ luyện thân thể cường tráng sống lâu hơn người khác chưa thấu hiểu được mục đích tối hậu. Chinh phục thể xác chỉ là bước đầu đưa con người đến việc chinh phục tinh thần. Giữ cho mình không hành động xấu thì dễ nhưng giữ cho tâm không nghĩ xấu mới khó khăn gấp bội, và đòi hỏi nổ lực phi thường. Đời người quá ngắn, việc tập luyện kiểm soát thể xác đã đòi hỏi nhiều năm, không đủ để tu tập tinh thần. Do đó, các đạo sĩ mới kéo dài thêm đời sống. Môn Hatha Yoga chỉ nhắm mục đích chủ trị xác thân, khi thành công phải tu tập thêm Raja Yoga nhắm chủ trị tinh thần. Hatha Yoga dọn đường cho Raja Yoga … 
Phương pháp rèn luyện tinh thần cũng giống như thể xác thôi. Nếu tập luyện thể thao đều đặn thì bắp thịt sẽ nảy nở, rắn chắc; thì rèn luyện tinh thần cũng vậy. Nhiều người có các tính xấu như ích kỷ, tham lam, hà tiện, đa nghi… Do đó, họ hành động không tốt với người khác. Đa số cho rằng đó là bản tính tự nhiên, không sửa đổi được. Thật ra, nếu muốn ta có thể sửa đổi mọi tính tình. Kinh Rig Veda đã ghi rõ : “Kẻ nào quan niệm sự tiến hoá một cách rõ ràng chính xác sẽ ý thức được quyền lợi và hạnh phúc của mình. Muốn trở nên một bậc toàn thiện ta phải có các đức hạnh và can đảm. Người nào muốn cải thiện xã hội phải biết cải thiện mình trước đã. Phải biết quên quyền lợi riêng để chú tâm vào phận sự chung". 

TTĐTD - trích: Hành trình về phương Đông
Ảnh: Internet

Wednesday, December 12, 2012

Năng lượng Tình thương

Bạn thường xuyên nạp năng lượng thông qua cuộc sống Thánh Thiện và Thiền định, vầng thứ bảy của trường hào quang mạnh mẽ, sáng suốt, sáng màu chàm, nhấp nháy với một tần số cao, sẽ giúp bạn xâm nhập vào “trường năng lượng vũ trụ”.

Vân Hạc được giáo sư Lê Trọng Khánh trao cho cuốn sách “Năng lượng tinh thần” của tiến sĩ Đặng Kim Nhung, về đến nhà đọc liền một mạch cho đến hết, lòng thầm cảm phục cái tài và cái tâm của tác giả. Điều đặc biệt là nội dung cuốn sách đem lại cho bạn đọc nhiều cái mới về cách nhìn nhận về con người và vũ trụ, mối quan hệ nhân quả, giúp mỗi người có khả năng điều chỉnh lối sống, chữa một số bệnh thông thường và nan y, sống khỏe và tràn đầy hạnh phúc.
Cánh cửa bí mật về một năng lượng siêu nhiên, về mối quan hệ giữa vũ trụ và tiểu vũ trụ – (con người) như có câu thần chú: “Vừng ơi…!” đã được khai mở. Người đọc khi hiểu được những thông tin bổ ích và lý thú mà tác giả cung cấp qua quá trình nghiên cứu, thực nghiệm sẽ tự tin hơn trong mọi hoàn cảnh. Tôi đặc biệt tâm đắc sự đơn giản nhưng hiệu quả của phương pháp “dưỡng sinh tâm thể” và hiệu quả cao đến bất ngờ đã được kiểm chứng, cùng phương châm sống mà tác giả nêu lên: “Cho là nhận, những người hiểu được luật này sẽ giải đầy hoa trên mỗi bước chân mà họ đi qua” và : “Mùa màng bao giờ cũng nhiều hơn hạt giống”..!
Vân Hạc vốn hâm mộ giáo sư Lê Trọng Khánh từ lâu , bởi ông không chỉ là một nhà nghiên cứu sử học có kiến thức uyên thâm, mà ông còn là người có khả năng đặc biệt: biết nhiều ngoại ngữ qua tự học với phương pháp độc đáo là “thiền”. Ông có tự thể chữa bệnh cho mình và cho người khác, có thể làm hoa nở như ý… bằng năng lượng sinh học của mình và gần đây ông công bố tác phẩm: “Phát hiện hệ thống chữ Việt Cổ thuộc loại hình khoa đẩu” – (nhà xuất bản Từ điển bách khoa, tổng phát hành: Trung tâm văn hóa Tràng An năm 2010) với những cứ liệu không thể bác bỏ, khẳng định sự tồn tại và phát triển của chữ Việt cổ phát triển rực rỡ từ thời kỳ Hùng Vương, được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Vân Hạc vinh dự là người góp phần chỉnh lý, biên tập tác phẩm này.
Chính Vân Hạc Cách đây 10 năm cũng bị căn bệnh ngứa toàn thân quái ác năm năm trời, ngứa điên dại đến mức có lúc đã không muốn sống. Do thiếu hiểu biết, lại không may gặp một số bác sỹ thiếu lương tâm nên chữa không đúng phương pháp, lạm dụng corticoid nên cơ thể béo phì, sức đề kháng suy giảm, người nổi lên mấy cái u và phải chịu rất nhiều hệ lụy đau khổ. Lúc đó con còn nhỏ, đặc biệt người vợ yêu quí của Vân Hạc sát cánh luôn động viên: “Hãy cố gắng lên anh, em và các con cần anh vô cùng!”. Được tiếp thêm nghị lực sống, Vân Hạc tham khảo nhiều phương pháp chữa bệnh cổ kim rồi quyết định điều chỉnh lại bữa ăn cho hợp lý, hàng tuần nhịn đói tuyệt đối một ngày, tạo ra một tinh thần lành mạnh (và cũng viết báo, viết văn từ đó). Nhịn được 49 ngày thì bệnh đỡ, sức đề kháng khôi phục, các khối u tiêu biến cho đến tận bây giờ không tái phát, ngày đó Vân Hạc nhịn tới hơn 60 tuần. Và bây giờ cùng nhà giáo Hoàng Đạo Chúc hội chủ “Hội những người yêu kính Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ” cùng địa phương và các nhà hảo tâm chung tay xây dựng khu di tích Lệ Chi Viên – (Gia Bình, Bắc Ninh) và làm nhiều việc thiện tâm.
Đọc cuốn sách “Năng lượng tình thương” của tiến sĩ Đặng Kim Nhung mà cứ tiếc mãi: nếu ngày trước, lúc bị bệnh mà hiểu được phương pháp chữa bệnh đơn giản mà hiệu quả như huyền thoại mà tiến sĩ Đặng Kim Nhung giới thiệu trong cuốn sách quí này chắc sẽ nhanh khỏi bệnh hơn, lại tránh được những đau khổ về tinh thần và thể xác.
Giáo sư Lê Trọng Khánh vì yêu mến nên có dặn: “V.H đọc rồi viết bài giới thiệu cuốn sách “Năng lượng tinh thần” cho nhiều người cùng biết và áp dụng”. Vân Hạc rất vui vì chính mình cũng đã từng áp dụng được một phần những điều mà cuốn sách đặt ra, tiếc rằng không có hiểu biết cơ bản và có “duyên” được chữa khỏi bệnh nhanh chóng và trở thành truyền nhân trị bệnh cứu người như tác giả.
Đúng lúc nhà văn Mai Thục đã viết rất sâu giới thiệu cuốn sách này và gửi cho Vân Hạc. Vân Hạc xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài giới thiệu của nhà văn Mai Thục:

Mai Thục
Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học lớn, được khởi đầu từ cuốn sách Năng lượng Tình thương của tiến sĩ Đặng Kim Nhung (NXB Văn hoá Thông Tin- 2010).
Văn hoá nhân học là khái niệm xuất phát từ nước Anh. Là một cách tiếp cận tổng hợp tạo ra trường phái nghiên cứu về nhân loại và văn hoá, mà một trong những hướng tiếp cận của nó là nghiên cứu về các hoạt động của con người.
Người ta có thể nghiên cứu con người thông qua các nghiên cứu về khoa học tự nhiên như: sinh vật học, giải phẫu học, tâm lý học, bệnh học… hay qua nghiên cứu của khoa học xã hội như dân tộc học, nhân chủng học, khảo cổ học, văn học…
Cuốn Năng lượng Tình thương bằng cách tiếp cận khoa học vật lý, khoa học nhân văn, vũ trụ học và tinh thần học… tác giả muốn tìm về cội nguồn, nghiên cứu bản thể của các phương pháp chữa bệnh tự nhiên của thế giới và của Việt Nam xưa và nay, thuộc lĩnh vực y học Năng lượng và nằm trong nhóm y học bổ sung mà Dưỡng sinh Tâm Thể được thể hiện như những ví dụ minh hoạ.
“Với cách nhìn vũ trụ như một tư duy vĩ đại hơn là một cỗ máy vĩ đại, thông điệp mà cuốn sách này muốn gửi đến chúng ta là: để khoẻ mạnh và hạnh phúc, con người- một tiểu vũ trụ, được đặt trong bối cảnh của một vũ trụ nhất thể, thì quan hệ ứng xử giữa con người với con người , giữa con người và vũ trụ là tôn trọng, khiêm nhường và yêu thương. Tình thương là nguồn năng lượng vô hạn mà trời đất ban tặng cho chúng ta, nhưng nhận được hay không lại phụ thuộc nơi chính bạn” (Lời giới thiệu - NXB Văn hoá-Thông tin- Sđd trang 6)

Những mục tiêu cơ bản của cuốn sách Năng lượng Tình thương:
I. Vũ trụ vô cùng kỳ bí, hãy khiêm tốn học hỏi và bạn sẽ ngạc nhiên bởi phép màu của nó mang lại cho chính bạn:
Vũ trụ vô hạn và đầy bí ẩn. Sự hiểu hiểu biết của loài người hữu hạn.
Phát biểu ngày 16-12- 2008, trưởng nhóm nghiên cứu thuộc Đài quan sát Vật lý học thiên thể Smithsonia ở bang Massachusetts, ông Alexey cho biết: nguồn “Năng lượng tối” cấu thành tới trên 70 % vũ trụ và là một dạng “lực hấp dẫn đang kiềm chế vũ trụ, dù hiện vẫn chưa rõ nó thực sự là gì”.
“Năng lượng tối” lại được phát hiện năm 1998, đã gợi lại sự quan tâm của giới khoa học đối với khái niệm của Albert Einstein về các hằng số vũ trụ - một biến thể của học thuyết tương đối, theo đó đặt giả thuyết về khả năng tồn tại một lực đẩy trong vũ trụ, để có thể giải thích được sự cân bằng với lực hấp dẫn trong vũ trụ. Bởi theo Einstein, nếu không tồn tại một lực đẩy như vậy, lực hấp dẫn sẽ khiến vũ trụ nổ tung.
Theo những số đo của kính thiên văn vũ trụ Hubble, năng lượng tối bí ẩn, đang đẩy vũ trụ giãn ra, dường như là loại lực không đổi mà Albert Einstein từng dự đoán. Các nhà khoa học coi “Năng lượng tối” là một dạng năng lượng lạ.
II. Vài nét tổng quan về vũ trụ - Những vấn đề gợi mở:
Trong những thập niên gần đây, khoa học đã trở nên ý thức được giới hạn nghiêm trọng của những cảm nhận thông qua ngũ quan con người:
Về thị giác: Mắt của chúng ta có khả năng rất khiêm tốn. Nó chỉ cảm nhận được với một dải bức xạ khá hẹp, có chiều dài bước sóng khoảng 0,0004 - 0,0007cm, phần còn lại của sóng điện từ, chúng ta không thấy được. Vì thế, không nhìn thấy, không có nghĩa là không có. Chúng ta đang bơi trong biển cả của sóng năng lượng (bao gồm cả sóng năng lượng đã biết và chưa biết “Năng lượng tối”), chìm ngập trong đại dương sóng điện từ, tia gramma, tia cực tím, tia hồng ngoại, sóng vi ba, sóng rađio, sóng ngắn… Chúng ta cũng chỉ mới đặt tên cho một lượng rất ít các loại sóng hiện hữu.
Về thính giác: Khả năng nghe âm thanh đối với con người, chỉ giới hạn trong khoảng 25 - 25000 Hz, trong khi đó, nhiều loài vật như loài chó, loài dơi… có thể nghe được dải tần số của sóng âm thanh lớn hơn nhiều lần.
Về khứu giác: Mùi vị là sự khuyếch tán vật chất trong không gian với nhiều cung bậc khác nhau. Khả năng khứu giác của loài người càng khiêm tốn so với các loài vật quanh ta: chó, ruồi…
Như vậy khả năng cảm nhận của con người với vũ trụ trong dạng sóng năng lượng là rất hạn hẹp. Chỉ mới nhận biết khoảng ba phần trăm nghìn (0,0003) của các bức xạ năng lượng quanh ta.
Khoa học công nghệ hiện đại của chúng ta mới chỉ phát hiện được một phần rất nhỏ của toàn bộ phổ năng lượng vũ trụ. Vera Rubin - nhà thiên văn học người Mỹ đã đưa ra khái niệm “vật chất tối”. Theo bà vũ trụ gồm hai phần: “Phần vật chất hữu hình và phần vật chất vô hình”. Bà nhấn mạnh “phần vật chất hữu hình là rất nhỏ (chiếm khoảng 10%)”. Các nhà vật lý thiên văn nổi tiếng thế giới đã kết luận: “Có một cái gì đó vô hình đang đang tương tác lên thế giới vật chất của chúng ta”.
III. Sự nhất thể của vũ trụ bao gồm cả con người - Tiểu vũ trụ:
* Cơ học cổ điển của Newton:
Newton Isaac (1642- 1727) nhà bác học Anh vĩ đại, người đã xây dựng những định luật cơ bản của cơ học cổ điển, định luật vạn vật hấp dẫn, nghiên cứu sự tán sắc ánh sáng và nhiều hiện tượng quang học khác. Ông cũng là người đặt cơ sở cho phép tính vi phân, tích phân. Về mặt vũ trụ quan, Newton cũng đã có những đóng góp mang tính khuynh đảo. Trước Newton, người ta quan niệm rằng trái đất đứng yên và mặt trời quay quanh trái đất. Newton đã chỉ ra rằng theo định luật vạn vật hấp dẫn của ông, lực hấp dẫn sẽ làm cho mặt trăng chuyển động theo quỹ đạo hình elip xung quanh trái đất và các hành tinh khác (bao gồm cả trái đất), chuyển động theo quỹ đạo hình elip xung quanh mặt trời. Căn cứ vào định luật này, Newton khẳng định rằng các ngôi sao hút lẫn nhau (điều này hoàn toàn phù hợp với Kinh Dịch)… Từ vũ trụ quan khuynh đảo này, hàng loạt các ngành khoa học về thiên văn học, chiêm tinh học, vũ trụ học ra đời. Người ta bắt đầu giải thích về thủy triều, về các mùa trong năm, về quỹ đạo bay của các con tàu vũ trụ, và tình trạng mất trọng lượng khi bay ra ngoài phạm vi chịu trường của trái đất…
Trong thế giới hữu hình, Newton đã đi vào lịch sử như một huyền thoại. Tuy nhiên bất cứ một lý thuyết vật lý nào cũng chỉ là tạm thời. Một lý thuyết vật lý tốt là nó đưa ra được nhiều tiên đoán. Mỗi lý thuyết chỉ có thể đúng trong những miền ứng dụng.
* Cơ học lượng tử:
Cơ học lượng tử là lý thuyết phát triển từ nguyên lý lượng tử của Planck và nguyên lý bất định của Heisenberg. Nguyên lý lượng tử là ý tưởng cho rằng, ánh sáng (hoặc bất kỳ một sóng cổ điển nào khác), có thể hấp thụ theo từng lượng nhỏ rời rạc, gọi là lượng tử. Trong Cơ học lượng tử có một hạt, ta không ghi nhận được trực tiếp, nhưng sự tồn tại của nó gây ra những hệ quả có thể đo được, gọi là hạt ảo; một không- thời gian bốn chiều, mỗi điểm tương ứng với một sự cố; nhị nguyên sóng/ hạt (không có sự khác biệt giữa sóng và hạt, một hạt đôi khi có dạng của sóng và ngược lại). Nguyên lý bất định xác nhận ta không bao giờ đo được chính xác cùng một lúc vận tốc và vị trí của hạt; càng biết chính xác đại lượng này, thì lại càng ít biết chính xác về đại lượng kia. Nguyên lý bất định đã phát tín hiệu về sự cáo chung cho giấc mơ về một nguyên lý khoa học, một mô hình của vũ trụ hoàn toàn có tính chất tất định. Như thế có nghĩa là, người ta không thể tiên đoán những sự kiện tương lai một cách chính xác.
Đầu thế kỷ XX, Heisenberg (1901- 1976) nhà vật lý nổi tiếng người Đức đã cùng hai nhà vật lý người Ý và Áo, xây dựng lại lý thuyết Cơ học lượng tử trên cơ sở của nguyên lý bất định: “Các hạt không có vị trí và vận tốc tách bạch và hoàn toàn xác định. Thay vì thế, chúng có một trạng thái lượng tử là tổ hợp của vị trí và vận tốc.” Do đó cơ học lượng tử đã đưa vào khoa học một yếu tố không thể tránh khỏi- yếu tố ngẫu nhiên (hay không thể tiên đoán). Cơ học lượng tử là cơ sở cho hầu hết các ngành khoa học và công nghệ hiện đại. Nó điều khiển hành vi của transto và các mạch tích hợp- thành phần cơ bản của công nghệ điện tử như: tivi, computer… nền tảng của khoa học công nghệ hiện đại cũng là nền tảng của hóa học và sinh học hiện đaị. Tuy nhiên, có một khu vực mà cơ học lượng tử không thể xâm nhập được một cách hiệu quả- đó là hấp dẫn và cấu trúc của vũ trụ ở qui mô lớn. Phải chăng đây chính là miền còn bỏ ngỏ. Einstein đã có lý khi nói rằng: “Chúa không chơi trò xúc xắc”. Vũ trụ không phải được điều khiển bởi sự may rủi, nó được điều khiển theo qui luật tối ưu của tạo hóa.
* Sự bế tắc của cách tiếp cận từ lý thuyết tương đối rộng và cơ học lượng tử, những khát vọng:
Cho đến nay, khó có thể xây dựng được một lý thuyết mô tả được toàn thể vũ trụ trong tổng thể của nó.
Nhiều ngàn năm trôi qua, càng ngày càng sáng tỏ một điều: Vũ trụ không phải là tùy tiện, mà nó được điều khiển bởi qui luật tối ưu xác định. Vũ trụ bao la huyền bí của chúng ta giống như một tư duy vĩ đại hơn là một cỗ máy vĩ đại.
* Liệu thế giới không thể phân chia? Liệu tồn tại các thế giới song song?
Aristotle, nhà triết học Hy- Lạp (384- 322 TCN) tin rằng toàn bộ vật chất trong vũ trụ được tạo thành từ bốn yếu tố cơ bản: Đất, Không khí, Nước và Lửa. Các yếu tố này được tác động bởi hai lực hút và đẩy.
Triết lý của quan điểm này của cấu trúc vật chất trong vũ trụ, trùng với triết lý cấu trúc vũ trụ của phương Đông, mà điển hình là của Kinh Dịch, đó là Âm Dương - Ngũ hành tồn tại từ ba nghìn năm trước công nguyên cho đến nay. Theo đó, năm yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là những yếu tố cơ bản tạo thành vật chất của vũ trụ.
Triết lý của vấn đề là:
- Thế giới là một thể thống nhất, không thể phân chia. Cấu trúc của vật chất trong vũ trụ là một khối thống
nhất, không thể phân chia, tức không có phần tử nhỏ nhất, không có viên gạch cuối cùng mà hàng trăm năm, ngành cơ học lượng tử cố công tìm kiếm.
- Giữa các vật thể luôn luôn tồn tại các trường, biểu hiện bằng lực hút, lực đẩy hay gọi chung là lực tương tác.
- Vật chất luôn vận hành, luôn biến đổi không ngưng nghỉ, theo qui luật Âm- Dương, Ngũ hành. Theo Kinh Dịch, trong vũ trụ có một điều không thay đổi đó là sự vận hành không ngưng nghỉ. Song hành tồn tại với quan điểm của Aristotle là một quan điểm đối lập, điển hình là Democristus nhà bác học Hy Lạp (460- 370) cho rằng vật chất vốn có dạng hạt mà hạt nhỏ nhất (hạt cơ bản) là nguyên tử không thể phân chia được nữa.
Hai quan điểm đối nghịch trên cứ song hành tồn tại cho đến tận những năm đầu thế kỷ XX, cuộc tranh luận tưởng đã ngã ngũ với phần thắng thuộc những người theo nguyên tử luận.
* Nguyên tử luận- những thành công và bế tắc:
Trong suốt thế kỷ XX, các nhà bác học đã sôi nổi đi tìm cấu trúc của hạt cơ bản và người ta nhận thấy hạt cơ bản bị phân chia từ Electron> Proton> Nơtron> tới dạng hạt Quark- cũng chưa phải là nhỏ nhất vì hạt Quark có bước sóng nhỏ hơn bước sóng ánh sáng. Điều huyền bí là chúng lại có khối lượng lớn hơn rất nhiều so với các hạt mà từ đó chúng sinh ra và đặc biệt là những hạt này phân rã rất nhanh để lại thành Proton và Nơtron.
Niềm tin của những nhà “nguyên tử luận” bị lung lay… và họ tiếp tục tìm ra lý thuyết” Dây” và “siêu Dây”- dạng vật chất của vũ trụ trước đây được xem như hạt, thì giờ đây được biểu diến như những sóng chạy dọc theo “dây”. Nhưng lý thuyết “Dây” chỉ đúng khi không gian, thời gian phải có tới mười chiều, hoặc mười sáu chiều, chứ không phải là không gian chỉ có bốn chiều như chúng ta hiện nay (ba chiều không gian, một chiều thời gian). Nếu quả thật có sự tồn tại nhiều chiều không gian, thời gian, tại sao chúng ta không cảm nhận được? Phải chăng tồn tại những vũ trụ song song? Liệu vật chất là liên tục và thế giới không thể phân chia?
Nền vật lý hiện đại có một ảnh hưởng sâu đậm hầu như trên mọi hình thái của xã hội loài người. Nó đã trở thành cơ sở của nền khoa học tự nhiên và sự liên hệ tương hỗ giữa khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật. Nó làm biến đổi sâu sắc điều kiện sống của chúng ta, cả tốt/xấu. Tuy nhiên, sự nghiên cứu về thế giới nguyên tử nửa cuối thế kỷ XX đã phát hiện một cách bất ngờ các quan niệm cổ điển, buộc ta phải có sự sửa đổi triệt để về nhiều khái niệm. Thế giới quan của chúng ta cũng bắt đầu thay đổi, dù muốn hay không muốn.
Thế kỷ XXI. Khởi đầu cho sự thắng thế của quan niệm vũ trụ không thể phân chia của nhà triết học vĩ đại Aristotle. Đó là vũ trụ đồng nhất thể, vật chất là liên tục và không thể phân chia, và vận hành không ngưng nghỉ theo qui luật Âm- Dương, Ngũ hành. Thế giới (dù tầm vi mô hay vĩ mô) cũng là một thể thống nhất không thể phân chia.
Mặt khác ngày nay, chưa có lý do để phủ nhận sự tồn tại của những thế giới song song theo bất kỳ nghĩa nào. Người ta thấy rằng, vũ trụ ngày nay giống như là một tư duy vĩ đại hơn một cỗ máy vĩ đại. Và phải chăng đó là con đường của trái tim?
IV. Sự tương tác vũ trụ & tiểu vũ trụ (con người) thông qua trường sóng năng lượng & nguồn gốc chữa bệnh bằng năng lượng:
A. Trường và những khám phá không ngưng nghỉ:
1- Lịch sử phát triển của các loại trường và những ứng dụng lớn lao:
* Sự khởi nguồn của trường khí vũ trụ và ứng dụng cho sức khỏe con người:
Trường khí vũ trụ đã được biết đến, chế ngự và sử dụng hàng ngàn năm trước. Nền văn minh Ai Cập và trường khí vũ trụ (bao gồm NLSH) qua nhiều tư liệu viết, hình vẽ và nhất là qua việc sử dụng kỳ lạ các sóng hình dạng vào việc điều khí ở Kim tự tháp. Kinh Thánh cũng xác nhận tri thức này đã được lưu truyền qua nhiều thế kỷ. (Rất tiếc, tới thời kỳ Trung cổ, người ta đã lầm lẫn nó với việc thực hành ma thuật và trò phù thủy). Trên thực tế, từ “khí” đã có từ ngàn xưa với sự ra đời của Kinh Dịch.
2- Học thuyết Mesmer với Năng lượng sinh học, Y học năng lượng và Dưỡng sinh Tâm Thể:
Mesmer Franz người Áo, bác sĩ, nhà vật lý, chiêm tinh học (1774-1815) đã trình bày học thuyết với hai mươi bảy điều khoản về phương pháp trị bệnh khá huyền bí của ông. Người ta nghiên cứu, gắn học thuyết Mesmer với những lý thuyết trường hiện đại:
- Có một ảnh hưởng tương hỗ giữa các thiên thể, trái đất và các sinh vật (mối quan hệ Thiên- Địa- Nhân hợp nhất). Mệnh đề này gợi nhớ tới định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, và lý thuyết Trường: Trường nhiệt, Trường điện từ, Trường khí vũ trụ hoặc sóng vũ trụ. Sóng vũ trụ là bức xạ từ các thiên hà, các hệ mặt trời, các vì sao trong vũ trụ, từ lòng đất, từ đại dương… Sóng vũ trụ đến từ mọi hướng, mọi không gian, thời gian.
- Một chất lỏng dàn khắp vũ trụ một cách liên tục, không để có chỗ trống. Sự tinh tế của nó không gì sánh nổi. Nó có khả năng nhận- truyền và trao đổi mọi cảm giác của vận động. Ngày nay khoa học cảm xạ đã khẳng định (thông qua các thí nghiệm có thể định lượng được) là:
- Tồn tại năng lượng dự trữ trong mọi vật chất của vũ trụ. Nguồn năng lượng này là động lực để vật chất luôn luôn vận động tạo ra những rung động và lan truyền trong vũ trụ. Sự bức xạ năng lượng và lan truyền như vậy được gọi là sóng.
- Xung quanh chúng ta tràn ngập môi trường năng lượng bức xạ, có thể hình tượng hóa chúng bằng thuật ngữ “Vũ điệu năng lượng” và ngầm hiểu sự kỳ bí của thế giới sóng năng lượng này. Khái niệm chất lỏng trong mệnh đề của Mesmer ngày nay được thay bằng sóng năng lượng. Ý tưởng này thể hiện rõ trong các khái niệm rung động cộng hưởng và sóng mang thông tin khi ta thực hành chữa bệnh từ xa.
- Hoạt động trên bị chi phối bởi các luật, những cơ chế mà đến nay ta vẫn chưa được biết. Tuy nhiên, đã có nhiều nhân tố, nhiều bằng chứng, cho phép chúng ta tin rằng: nền văn minh cổ đại đã biết đến, đã làm chủ và sử dụng sóng năng lượng vào nhiều mục đích khác nhau, trong đó có mục đích chữa bệnh.
B. Chữa bệnh theo phương pháp tự nhiên và Dưỡng sinh tâm thể:
Chữa bệnh theo phương pháp tự nhiên bao gồm các phương pháp khá phong phú. Có thể chia thành các nhóm chính:
* Chữa bệnh nội tâm:
Phương pháp này rất gần với tâm lý trị liệu, nhưng rộng hơn nhiều. Nó đi sâu vào bên trong, vào tâm lý và suy nghĩ của con người, nhằm xây dựng một hình ảnh tốt đẹp hơn về con người mình. Việc này có tác dụng lớn tới trị liệu bệnh tật: Thôi miên, Thiền, Liệu pháp tâm lý… thuộc nhóm chữa bệnh này.
* Chữa bệnh bằng thảo dược:
Dùng tinh dầu chiết xuất từ cây cỏ có mùi thơm để trị bệnh: xoa bóp, tắm, ngâm, xông hít…
* Chữa bệnh thể xác và tinh thần:
Phương pháp chữa bệnh vận dụng khí lực, khai thông kinh mạch, hay sự vận động cơ thể để cải thiện tình trạng thể chất và tinh thần: Thủy liệu pháp, châm cứu, Yoga…
* Chữa bệnh tâm linh:
Thuật ngữ này được dành cho tất cả các phương pháp mà người ta quan niệm rằng:
- Con người là một nhất thể- không thể tách rời phần tinh thần và phần thể xác.
- Vũ trụ tràn đầy sóng năng lượng của chúng ta là một nhất thể.
- Giữa con người và vũ trụ có một mối quan hệ rất khăng khít.
Xã hội ngày nay được xem như một chứng tích hùng hồn cho các thành tựu khoa học kỹ thuật. Tại nhiều nơi, khoa học đã thay thế cho tôn giáo và triết học, để trở thành nguồn kiến thức tưởng chừng vô biên của nhân loại. Cả những bí mật của tạo hóa, trước đây thuộc lĩnh vực thiêng liêng, cũng có thể giải thích rõ ràng bằng những ngôn từ khoa học. Nhiều nhà khoa học đã quá tự tin khi hành động, khi giải thích. Tiếc thay, trên thực tế, hiểu biết về vũ trụ của chúng ta còn rất mơ hồ.
Thật không ngoa khi nói rằng, tất cả sự tìm kiếm không mệt mỏi của loài người hàng ngàn, hàng ngàn năm qua mới hiểu được khoảng mười phần trăm những bí mật của vũ trụ. Những năm gần đây, khoa học đã không đưa ra được câu trả lời cho những vấn đề cơ bản nhất của sự sống. Càng ngày càng có thêm nhiều người (cả thầy thuốc và bệnh nhân) có một quan niệm nhất thể hơn về sức khỏe, nhìn nhận tầm quan trọng của cả lối sống, cách tư duy… trong gìn giữ sức khỏe.
Quan trọng hơn, người ta đã bắt đầu nhận ra, tác động lớn lao của cuộc sống tinh thần, tình cảm, trên sức khỏe thể chất. Quan niệm con người là một nhất thể, nhất thể trong chính mình và trong vũ trụ đã được chấp nhận rộng rãi và trở thành nhận thức chung của mọi người. Vô số những liệu pháp bí truyền đã trở nên được xã hội chấp nhận dễ dàng, gọi chung là chữa bệnh bằng niềm tin- “chữa bệnh tâm linh”. Tại Anh, Mỹ, chữa bệnh tâm linh được kể như một liệu pháp dịch vụ y tế nhà nước.
Chữa bệnh tâm linh là một kiểu điều trị thịnh hành từ năm trăm năm TCN. Pythagoras, nhà toán học, thiên văn học, toán học, vật lý học của thế kỷ VI (TCN) cho rằng nguồn gốc chữa lành bệnh là năng lượng Pneuma được sinh ra từ nguồn lửa trong lòng vũ trụ. Theo ông, mọi bệnh tật được sinh ra từ sự đối kháng xung khắc nhau, năng lượng giúp chúng cân bằng và lành bệnh.
Hipocates (460-377) người Hy Lạp, được xem là ông tổ của y học hiện đại. Theo ông, tất cả các loại bệnh, cả tinh thần lẫn thể chất đều do các yếu tố thiên nhiên gây ra. Ông coi trọng “Sức mạnh chữa bệnh của thiên nhiên”. Tuy nhiên, ông cho rằng thể xác và tinh thần là hai phần tách biệt. Tiếc thay, ý tưởng này chế ngự chính thống suốt nhiều thế kỷ qua.
Ngay thời đó, Plato, nhà triết học Hy Lạp nổi tiếng đã chống lại: “Sai lầm lớn nhất của chúng ta ngày nay là các vị thầy thuốc đã tách rời tinh thần ra khỏi thể xác.”
Paracelsus (1493- 1541) thầy thuốc người Thụy Sĩ, có thể xem là cha đẻ của phương pháp chữa bệnh tâm linh. Ông đi khắp châu Âu, học hỏi và chữa lành bệnh một cách kỳ diệu. Ông đề xướng tư tưởng: Tinh thần và thể xác không thể tách rời nhau, mà còn đi xa hơn. Con người gắn với thiên nhiên, bên trong con người phản ánh vũ trụ rộng lớn ở bên ngoài (theo cách nói của Kinh Dịch, con người là tiểu vũ trụ). Ông cho rằng năng lượng chữa bệnh có sẵn trong thiên nhiên. Ông gọi năng lượng này là Archaeus. Năng lượng này vừa có lợi, vừa có hại, nó có thể gây bệnh cũng như chữa lành bệnh. Ông còn cho rằng những suy nghĩ xấu có thể làm tắc luồng Archaeus và gây ra bệnh tật.
Mesmer khẳng định tinh thần và thể xác không thể phân chia. Con người là một phần không thể tách rời của vũ trụ. Ông cũng cho rằng vũ trụ tràn đầy năng lượng để chữa bệnh mà ông gọi là “ từ trường động vật”. Ông cho rằng có một bầu ête tâm linh bàng bạc trong không gian. Bầu ête này chịu những lưu chuyển do các thiên thể gây ra. Sự lưu chuyển này đi khắp mọi vật thể hữu cơ, tất nhiên là gồm cả loài người. Khi sự lưu chuyển được thông suốt trong cơ thể thì con người được khỏe mạnh, trái lại sự lưu chuyển bị ách tắc dẫn đến bệnh tật. Hiệu quả chữa lành bệnh của Mesmer gây chấn động trong giới quí tộc thế giới (Áo, Đức, Pháp). Đầu tiên ông chữa cho từng người, sau đó chữa cho từng nhóm người. Tại Paris, ông được bà hoàng Marie Antoinette bảo trợ và bà thành môn đệ của ông.
Felix Kersten- 1898 người Phần Lan sống tại Hà Lan, nhà thần học, có nghề xoa bóp, chữa bệnh tâm linh bằng hai bàn tay, trở thành bác sĩ tâm linh riêng cho hoàng gia Hà Lan.
Djuna Davitashvili nhà trị bệnh tâm linh được nhiều người biết nhất của Liên Xô trước đây. Bà thành lập riêng một dưỡng đường nhộn nhịp tại Matxcơva, chữa bệnh thành công cho Leonit Brezhnev và Boris Yelsin. Bà tự gọi mình là “người truyền dẫn năng lượng sinh học”. Cách chữa của bà bằng mắt, bằng tay theo phương pháp xoa bóp, tiếp xúc và không tiếp xúc. Djuna Davitashvili nổi tiếng về tài chẩn đoán bệnh.
Barbara Ann Brennan nhà vật lý học vũ trụ hàng không Nasa trong hơn hai mươi năm đã nghiên cứu về trường năng lượng con người. Bà được huấn luyện chữa bệnh bằng NLSH, ngày nay bà là người chữa bệnh tâm linh giỏi nhất Tây bán cầu và là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng được dịch ra nhiều nước trên thế giới.
Barbara cho rằng con người là một nhất thể, giữa con người và vũ trụ có mối liên hệ chặt chẽ qua trường năng lượng. Theo bà: “Mọi đau khổ đều gây ra bởi ảo tưởng về tính riêng biệt, vốn là mẹ đẻ của nỗi lo sợ…” và “Yêu thương là gương mặt, hình hài của vũ trụ…”. Bà cũng thống nhất quan niệm: “Chúng ta đang sống trên hành tinh năng lượng”.
Dưỡng sinh tâm thể (DSTT) của má Hai Hương (Tôn nữ Hoàng Hương) tại Hà Nội.
Về vũ trụ quan, từ cách tiếp cận cơ học lượng tử, những thành công và bế tắc, DSTT cho rằng: “Con người gồm hai phần. Phần tinh thần (siêu hình) và phần thể xác (hữu hình). Hai phần này hòa quyện vào nhau. Nó làm mạnh nhau lên hoặc làm yếu nhau đi; trong đó phần tinh thần (linh hồn) dẫn dắt phần thể xác. Trong con người tồn tại một hệ kinh lạc, lưu thông trong hệ kinh lạc là “khí”, cũng có thể hiểu là sinh khí. Hệ kinh lạc thông suốt, con người khỏe mạnh. “Khí” bị tắc nghẽn ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể, con người sẽ bị bệnh. Sinh khí trong hệ kinh lạc xung mãn, con người khỏe mạnh, toả trường hào quang, ngược lại, con người yếu đuối, buồn nản, héo hắt. Con người là sản phẩm hoàn thiện nhất của tạo hóa, giữa con người và vũ trụ liên hệ chặt chẽ với nhau qua trường (trường hào quang, trường thân thể, trường khí vũ trụ…) Xung quanh chúng ta tràn ngập năng lượng. Nguồn năng lượng này là động lực để vật chất luôn luôn vận động, tạo ra những rung động và lan truyền trong mọi môi trường dưới dạng sóng (vũ điệu năng lượng). Sóng vũ trụ (còn có thể gọi là sóng năng lượng, trường khí vũ trụ, NLSH…) là sóng bức xạ từ các thiên hà, hệ mặt trời, các vì tinh tú. Người ta nghiên cứu và thấy sóng vũ trụ thật đa dạng, từ loại tần số thấp, đến loại tần số cao…
V. Hào quang của con người, trường năng lượng vũ trụ và sức khoẻ của chúng ta:
Cuối thế kỷ XX, năm 1977 cuốn sách “Năng lượng của cơ thể sống” được in tại Pháp xác định “Không phải bức xạ (hào quang chỉ bao quanh con người mà là quanh muôn loài, kể cả thực vật”.
Đến nay, các nhà khoa học đã công nhận sự tồn tại những dòng phát sáng sinh học (bioplasma) trong con người. Nó có nhiều màu sắc, có tỷ trọng và cường độ khác nhau, và chảy theo các vầng có cấu trúc. Nó có liên hệ với các cảm xúc và tư duy của chúng ta. Bioplasma chính là chất liệu tạo thành các vầng của trường hào quang nơi con người.
Con người có bảy vầng hào quang. Mỗi vầng hào quang là duy nhất (có màu sắc, cấu trúc, chức năng, nhiệm vụ riêng). Chúng không pha trộn nhưng luôn tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau theo một qui luật nhất quán với sức khoẻ và mức độ Thánh Thiện trong cuộc sống tinh thần bạn. Khi bạn cân bằng sức khoẻ, bạn sống tràn đầy hạnh phúc với những suy nghĩ dâng hiến thanh cao, trường hào quang bảy vầng đều cân xứng, hài hoà sáng rõ.
Ngược lại khi bạn đau khổ, thù hận, ghen ghét, giận dữ, bảy vầng hào quang sẽ méo mó, mất cân xứng, chuyển màu tối đục. Và bạn sẽ ốm đau. Bạn thường xuyên nạp năng lượng thông qua cuộc sống Thánh Thiện và Thiền định, vầng thứ bảy của trường hào quang mạnh mẽ, sáng suốt, sáng màu chàm, nhấp nháy với một tần số cao, sẽ giúp bạn xâm nhập vào “trường năng lượng vũ trụ”. Nó dạy chúng ta về sự liên thông giữa tâm trí với tâm trí, giữa tâm trí của chúng ta với tâm trí vũ trụ. Nó giúp bạn tràn đầy sức sống nội tâm và thân thể khoẻ mạnh.
Năng lượng vũ trụ là vô hạn. Khi bạn sống Thánh Thiện bạn sẽ nhận được nguồn Năng lượng Tình thương từ vũ trụ và bạn sẽ có khả năng truyền năng lượng, chữa bệnh cho nhiều người.
VI. Cách sống để nhận được năng lượng phi phàm của vũ trụ: 
1- Sự quân bình:
Những người hiểu về cuộc sống tinh thần cho rằng bất cứ điều gì xảy ra trong cõi trời đất bao la này, đều được tạo bởi vô số yếu tố, mà yếu tố nào cũng cần thiết cả. Những yếu tố ấy, như những sợi chỉ muôn màu, muôn sắc được dệt chung để tạo nên một tấm thảm của sự tồn tại. Sự quân bình là cách nắm giữ các sợi chỉ ấy lại với nhau một cách hài hòa. Có thể nói, thước đo sự thông tuệ của một người, là khả năng giữ quân bình của người đó. Trong cuộc sống hiện đại náo động, xô bồ, biến động khôn lường, việc giữ được quân bình không phải là chuyện dễ. Chỉ một suy nghĩ, hay một lời nói tiêu cực thôi cũng có thể ném chúng ta ra khỏi sự quân bình. Chúng ta như người đi trên dây, ta cần rất cẩn trọng, đặt bước nọ sau bước kia, còn tay thì giữ một cái sào để giữ thăng bằng. Bước đi hơi chệch một chút, một đầu sào hơi nặng một chút, là ta sẽ bị đổ nhào. Để đến được đầu bên kia, mỗi bước chân của ta phải chính xác, mỗi bước chân của ta đòi hỏi sự quân bình.
2- Sự quân bình với sức khỏe con người:
* Sự quân bình giữa thể chất và tình trạng tinh thần:
Sức khỏe là kho tàng quí báu nhất của cuộc đời. Không có nó, mọi của cải khác đều trở nên vô nghĩa (Khổng Tử). Để khỏe mạnh chúng ta cần sự quân bình. Bị mất quân bình vì bất cứ lý do nào, ta sẽ bị bệnh. Giữa sức khỏe thể chất và tình trạng tinh thần có một sự gắn kết chặt chẽ. Nó cần được giữ quân bình, hài hòa. DaDi, người giữ linh hồn của Đại học tâm linh thế giới Ấn Độ thường nói: “Trong cuộc đời tôi, tôi luôn ưu tiên giữ sự bình an trong mọi ý nghĩ và cảm xúc của mình. Bằng cách này, tôi không bị mất năng lượng, và cách đánh giá của tôi cũng không bị méo mó bởi những xung đột nội tâm. Cách thực hành này mang lại sức mạnh cho tâm trí, cơ thể và giúp tôi có cảm giác thoải mái trong mọi mối quan hệ”.
* Sự quân bình giữa tinh thần và thể xác:
Con người có phần tinh thần, còn gọi là phần hồn, hay linh hồn (siêu vật chất) và phần thể xác (vật chất). Khi hiện hữu, trong mỗi con người, phần tinh thần và phần thể xác gắn kết chặt chẽ với nhau tới mức, người ta nhầm tưởng chúng là một, nhưng thực tế, chúng là “hai trong một”. Vì vậy một con người muốn khỏe mạnh và khỏe mạnh một cách bền vững, phải khỏe mạnh cả về tinh thần lẫn thể xác, phải giữ quân bình. Hai phần này tương tác lẫn nhau, làm mạnh nhau lên hoặc làm yếu nhau đi. Tuy nhiên, phần dẫn dắt là phần tinh thần.
* Sự quân bình Âm- Dương:
Âm- Dương ở đây là một phạm trù triết học sâu sa, chỉ hai trạng thái đối nghịch, hai cực, chúng luôn tương tác theo qui luật của Âm- Dương, Ngũ Hành, của tạo hóa, biến đổi, để tạo nên cuộc sống muôn màu của chúng ta. Để có sức khỏe, ta phải giữ quân bình Âm- Dương. Thí dụ phải giữ mình không quá nóng, không quá lạnh, không quá vui, không quá buồn…
VII. Luật nhân quả với sức khỏe con người:
Luật nhân quả là định luật của vũ trụ. Thế giới này được điều khiển tự động bằng luật nhân quả.Đây chính là luật chơi của vũ trụ. Từ “ nghiệp” (Karma) có nghĩa là “hành động” và luật của “nghiệp” là nhân quả, tức “gieo gì gặt nấy”. Bất kể hành động của ai đó, mà ngay cả lời nói hay mới chỉ là suy nghĩ, dù tốt hay xấu, sẽ mang lại cho người đó một kết quả tương đương. Kết quả này có thể nhận lại ngay tức thì, nhưng thường là nhận lại ở kiếp sau. Có thể là “Nghiệp lành”, cũng có thể là” Nghiệp dữ”, nếu ai tạo “Nghiệp dữ” thường gọi là “Nghiệp chướng” thì sẽ phải trả nợ sau này. Trong muôn vàn con đường trả nợ (bị tật nguyền, con cháu hư hỏng, làm ăn thất bát) có một con đường là bệnh tật, gọi là “ bệnh do nghiệp”, đây thường là những căn bệnh khó chữa nhất. Hiểu về “Nghiệp” và về luật nhân quả, có một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, những người thức tỉnh sẽ biết sống hướng Thiện, tức không tạo “Nghiệp dữ”. Người thức tỉnh biết trồng hoa nơi anh ta bước đi và nhâm nhi hạnh phúc được mang cho, được dâng hiến.
Luật nhân quả là định luật điều hành vĩnh hằng của vạn vật của vũ trụ. Đây là một qui luật được chi phối một cách khách quan, đương nhiên là có trước đạo Phật.
Tuy nhiên, khi đức Phật thành đạo dưới gốc Bồ đề, ngài đã giác ngộ được luật này, thấy được tầm quan trọng của nó tác động đến sự sống và sự chết trên hành tinh này. Luật nhân quả được giáo lý của đạo Phật hoàn chỉnh và trở thành lý thuyết cơ bản, là chính kiến quan trọng trong Phật học, đến mức nhiều người lầm tưởng luật nhân quả là của đạo Phật.
Luật nhân quả là định luật vĩnh hằng của vũ trụ, một luật tuyệt đối khách quan và tuyệt đối công bằng với từng con người, từng quốc gia đang tồn tại trên trái đất.
Chúng ta cần coi việc giáo dục Luật nhân quả như một chiến lược toàn cầu, thay thế cho mọi thuyết giảng đạo đức, và những tiếng kêu gào đánh thức lương tâm nhân loại trước tội ác đang tràn như sóng bão.
Bạn đã nhìn thấy Luật nhân quả vận hành tuyệt đối chính xác từ tầm vĩ mô (trái đất) đến vi mô (con người) chưa?
Như bạn đã thấy, hành tinh của chúng ta từng mỹ lệ, hiện đang thoi thóp, và chúng ta đang gánh chịu hậu quả từng ngày (bão, lũ, mưa, núi lửa, sóng thần, động đất, bệnh dịch người và gia súc…) do chính sự tàn phá tàn tệ không thương tiếc của con người nhiều thế hệ, nay vẫn tiếp tục. Rồi trái đất sẽ ra sao?
Rồi chính bạn, trong những ngày buồn, giận, đau khổ, âm mưu, thù hận, cơ thể bạn sẽ yếu ốm đến thế nào? Chưa nói đến việc ta quá tham sân si mà gây tội ác, thì quả báo nào sẽ đến? Chính vì sự vô minh đó mà cuộc sống của chúng ta trở nên bất hạnh, ốm yếu.
Cuộc sống trên thế giới này sẽ đẹp biết bao nếu mỗi con người biết được Luật nhân quả điều hành vũ trụ hoàn hảo và độc nhất vô nhị.
VIII. Tiến sĩ Đặng Kim Nhung & Công trình nghiên cứu Năng lượng Tình thương:
Cuối năm 2001, tôi gặp Đặng Kim Nhung tại Trung tâm Dưỡng sinh tâm thể Hà Nội (DSTT) của má Hai Hương rất kỳ diệu. Bằng Năng lượng Tình thương (DSTT) đã chữa cho nhiều người lành bệnh một cách khó tin. Đặng Kim Nhung dù bận làm hiệu phó Đại học Thăng Long, nhưng vẫn dành công sức đi chữa bệnh và nghiên cứu DSTT.
Từ một nữ sinh Chu Văn An, từng làm thợ tiện bậc hai, học thành kỹ sư cơ khí, rồi TS cơ học máy tại Hungari… giảng dạy các môn về kinh tế, xã hội ở bậc sau đại học, Đặng Kim Nhung trở thành người phụ nữ hoạt động khoa học năng động, khi quản lý dự án từ thiện, lúc nghiên cứu vấn đề Giới và Phát triển cùng bạn bè quốc tế tại Việt Nam. Chị quan tâm nhiều đến các lĩnh vực kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, chuyển giao công nghệ, quản trị dự án… Nhưng rồi đến một ngày, Đặng Kim Nhung thức tỉnh về đời sống tâm linh, nhờ má Hai Hương:
“ Đầu năm 1996, chỉ sau tám ngày tập DSTT, căn bệnh dị ứng không rõ nguyên nhân quái ác của tôi thuyên giảm rõ rệt, mười lăm ngày sau thì hoàn toàn chấm dứt cho tới nay. Hiệu quả mang tính huyền thoại này của DSTT đã kích thích trí tò mò của tôi. Anh Phan Văn Hùng hướng dẫn chữa bệnh cho tôi đã nhiệt tình mời tôi đến gặp bà Tôn nữ Hoàng Hương. Ánh mắt không sáng, dường như đang nhìn vào cõi hư vô nào đó, gương mặt hiền từ và giọng nói thật nhỏ nhẹ của má đã thật sự cuốn hút tôi. Má nói: “Con đến đấy à, má không phải thiếu ăn ra đây để kiếm cơm, mà là lấy bệnh làm lệnh đi tìm người hiền… Kiếp trước con là… Ngay ngày mai con hãy về chữa bệnh cho mọi người đi, con có thể làm được. Cốt là giữ Tâm lành, Thân lành, Ngôn lành, biết sống vì người khác, uống nước, nhớ nguồn…
Tôi tin những lời má nói, vì sống như thế, thì tôi được mẹ dạy từ tấm bé, nó đã ngấm vào tôi thành máu thịt. Nhưng điều tôi không tin và không thể tin, đó là điều về kiếp trước và điều tôi có thể chữa bệnh cho mọi người. Một người lang thang trong chốn trường đời như tôi, nay lại đi chữa bệnh, thì thật là hài hước. Nếu bạn bè biết được, chắc là bọn chúng nghĩ tôi bị điên thật rồi! Tôi tình nguyện theo má nghiên cứu khoa học về DSTT. Một hôm vào khoảng tháng 6- 1996, mẹ tôi ngả bệnh, sốt cao và mất ngủ. Tôi ngồi bên cạnh mẹ mà lòng lo lắng khôn nguôi, rồi gần như tự nhiên, tôi để tay lên vầng trán nóng bỏng của mẹ, vuốt mái tóc mẹ với một mong muốn cháy bỏng là mẹ sẽ mau lành bệnh. Thật kỳ lạ, chỉ sau ít phút mẹ tôi đã ngủ thiếp đi và lành bệnh khá nhanh. Lần ấy tôi vẫn chưa nghĩ gì về nguồn năng lượng lớn lao mà con người nếu biết và sống tốt, có thể nhận được là có thực, vì một người “ ngu trung” với khoa học hữu hình, và logic như tôi thì thật khó thuyết phục…”
Mười lăm năm qua, tiến sĩ Đặng Kim Nhung vừa thực hành chữa bệnh bằng Năng lượng Tình Thương cho mọi người, vừa khám phá, trải nghiệm bí ẩn của thế giới Tâm linh- Thế giới vô hình, nó nằm ngoài tầm nhìn vật lý quá hạn hẹp mà Kim Nhung từng biết.
Cuốn sách Năng lượng Tình thương của Đặng Kim Nhung đã trải qua một hành trình tâm linh bừng sáng.

Mai Thục và Vân Hạc
Nguồn: hoalinhthoai

Monday, December 10, 2012

Văn minh và Năng lượng

TTđTD - Tri thức tinh nguyên của nhân loại không chỉ là những kiến thức khoa học công nghệ mà con người biết được ngày nay, mà còn là “bể kiến thức nhân loại” vô hình, “trường thông tin tổng hợp vũ trụ” mà các giống dân trước người hiện đại đã từng tạo lập vẫn còn đâu đấy ở quanh ta dưới dạng năng lượng ẩn tự nhiên.
Có nhiều tiêu chí để đánh giá sự tiến bộ và giá trị của các nền văn minh nhân loại, trong đó không thể thiếu một tiêu chí quan trọng đó là dạng và cách thức sử dụng năng lượng vào đời sống. Có hai dạng năng lượng chính mà loài người đã và đang sử dụng (i) năng lượng tạo ra sức mạnh cơ giới như xăng dầu, chất hạt nhân để chạy máy móc (ii) năng lượng tự nhiên dạng ẩn, không chỉ tạo ra sức mạnh vi tế để xây các kim tự tháp cổ xưa theo truyền thuyết, mà còn sử dụng để chữa bệnh và được bộc lộ với nhiều khả năng đặc biệt khác. Dạng năng lượng tự nhiên dạng ẩn này còn có vai trò kích chấn trong những hoạt tinh thần của con người mà bạn đọc có thể chưa biết đến. Nói rộng ra, thánh thần, ma quỷ và những truyền thuyết ly kỳ hay những khả năng đặc biệt của con người như có khả năng ăn sắt thép, uống acid mạnh, khả năng tiên tri, khả năng tìm kiếm hài cốt và nhiều khả năng đặc biệt khác đều là những biểu hiện của các dạng thức và biến đổi của năng lượng ẩn tự nhiên. Dạng năng lượng thể ẩn này dường như đã được những nền văn minh cổ xưa sử dụng rất hiệu quả, nhưng bị lãng quên vì nhiều lý do khác nhau. Có thể những nền văn minh này đã bị những thảm họa tự nhiên hủy diệt và những nạn nhân sống sót sống lưu lạc ở khắp nơi và đã không thể khôi phục lại được. Dấu vết còn để lại được thể hiện ở những dạng thức đặc biệt, như mật truyền hay được cất dấu bằng những cách đặc biệt mà con người ngày nay với duy thực chứng (thấy được, cân đo đong đếm được) khó có thể tiếp cận để nghiên cứu và ứng dụng.


Thật vậy, truyền thống tâm linh Á Đông được biết đến với nền khoa học tâm linh diệu kỳ được coi là nền tảng triết học cho những nền văn minh của nhân loại ngay từ thuở khai thiên lập địa. Thuở ấy, con người đã biết sử dụng năng lượng vi tế trong tự nhiên, tạm gọi là năng lượng vũ trụ để chữa bệnh, xây dựng các thành quách bằng đá, các kim tự tháp vĩ đại. Làm thế nào con người có thể xây dựng được những công trình tầm cỡ như vậy, khi mà công cụ lao động của người xưa còn rất thô sơ? Đến nay, vẫn chưa có lời giải thỏa đáng và nếu có, thì mới chỉ là những giả thiết khoa học.

Những giá trị vật thể và phi vật thể của những nền văn minh cổ, minh chứng cho tầm mức tiến hóa của nhân loại vẫn còn nguyên đó, nhưng với hiểu biết khoa học hiện đại thì chúng ta chưa lý giải được cơ chế vận hành năng lượng trong quá trình xây dựng các công trình đó, cũng như những khả năng đặc biệt: phân thân, hiểu được ý nghĩ của người khác thậm chí không cần gặp và nhiều khả năng kỳ diệu khác. Người xưa chỉ có sức lao động chân tay là chính và công cụ xây cất thì vô cùng thô sơ. Vậy sức mạnh nào đã di chuyển được những khối đá cực lớn hàng chục tấn với quãng đường hàng trăm cây số đến nơi xây cất kim tự Tháp và lại còn nâng những khối đá đó lên cao và xếp đặt chúng theo đúng trật tự, chính xác đến từng tiểu tiết, điều này vẫn như đang chờ lời giải từ giới khoa học.

Phương vị và tâm linh  
Những nghiên cứu của giới nhà khoa học cho thấy các kim tự tháp, các tượng đài tâm linh cổ xưa của người thượng cổ, dù họ sống rải rác khắp nơi trên thế giới nhưng đều được bố trí, xếp đặt thống nhất về phương vị. Phương vị ấy là Phương Đông, nên trong tiếng Anh có từ orientation có nghĩa là hướng mặt trời mọc, là định hướng. Phải chăng nhân loại đang cần phải định hướng lại con đường phát triển và tiến hóa theo cách người Á Đông xưa đã làm. Một điều lý thú ai cũng biết đó là: dòng sông Mê Kông và các dòng sông lớn khác trên đất nước Việt Nam đều có phương vị “định hướng” chảy theo hướng Đông ra biển. Đích thực đất nước này có nhiều điều kì diệu về khoa học tâm linh xét theo tư duy phương vị “định hướng”. Dòng Mê Kông bắt nguồn từ mái nhà thế giới đổ về miền châu thổ đồng bằng Cửu Long ra biển qua chín cửa sông dường như là phương vị cho trục tâm linh mới. Điều này cần được nghiên cứu. Về khía cạnh nhân chủng học, thì các nhà khoa học cho thấy diện mạo, hình tướng của nhóm dân sống ở vùng núi tuyết với người Việt Nam có nhiều nét tương đồng, na ná giống nhau về kiểu hình. Nhóm cư dân sống ở thượng nguồn dòng sông huyền thoại này, phần đa theo Phật giáo Đại Thừa và có dòng Mật Tông. Còn cuối dòng Mê Công trên lãnh thổ Việt Nam, cư dân lại cũng phần đa thờ Phật và thuộc Phật giáo Tiểu Thừa. Sự tương đồng nhưng lại có nét khác biệt về cấu hình tư tưởng này cần được nghiên cứu. Vì thế, nếu nói dòng sông thân thương này có thể như một trục tâm linh gắn kết nghĩa tình (tâm linh) giữa các dân tộc vùng Đông Nam Châu Á (Asian countries) cũng là điều có lí. Tuy vẫn còn đâu đó có sự dị biệt nhưng điều này sẽ được điều hòa trong một tương lai gần, nhờ những đóng góp vô danh của những người con biết mình có cội nguồn từ vùng núi tuyết.
Thượng nguồn dòng Mê Kông, nơi được biết đến là vùng đất thiêng mà nhiều vị minh sư trong mọi thời đại đã từng tới để học hỏi tu hành. Hạ nguồn Mê Kông là nơi có nhiều điều bí ẩn vẫn chưa được biết đến và có một số nhà tiên tri cho biết: sẽ có Thánh nhân xuất hiện vào ngày Đại hỷ của nhân loại. Thánh nhân phải chăng là những vị có khả năng đặc biệt, minh triết, những người tài trí xuất hiện để dìu dắt sự phát triển nhân loại hợp thì và đồng pha với những thay đổi của hành tinh và vũ trụ, theo hướng thay đổi tiến hóa. Triết học Đông phương trong một tương lai gần sẽ trở thành một triết lý xứng đáng để định hướng cho nhân loại phát triển.

Từ những thế kỷ trước đã có nhiều học giả Phương Tây đã từng đến Phương Đông để nghiên cứu học hỏi nền triết học siêu việt ở đây. Thậm chí, những nhân vật nổi tiếng ác tâm như Hitler cũng đã có ý định đến vùng núi tuyết để học hỏi. Vì sao các nhà khoa học lại muốn đến vùng sơn cước, nơi mà “ánh sáng” của nền văn minh vật chất có khi còn chưa đến được? Những nơi được nhiều nhà khoa học đến là: Tây Tạng và vùng Trung cận Đông, gần đây là Nam Mỹ, những nơi cũng có nhiều Kim Tự Tháp. Theo thuyết “lục địa trôi” của ngành khoa học địa cầu thì Nam Mỹ là phần tách ra từ một lục địa xa xưa có nền văn minh Kim Tự Tháp. Đã có nhiều giả thiết khoa học cho rằng các kim tự tháp có liên quan đến cơ chế sử dụng năng lượng vũ trụ, dạng năng lượng ẩn của tự nhiên.

Nhận xét chung của các nhà nghiên cứu khi đến vùng đất tâm linh này của thế giới đều cho rằng: ở đây, Á Châu đã tồn tại một nền văn minh đẳng cấp, vượt xa những gì người Tây Phương biết được. Sự hiểu biết của một số vị minh sư Á Châu như Lão Tử, Đức Phật Cồ Đàm Thích Ca Mâu Ni và nhiều vị khác kể cả những vị ẩn danh là sự hiểu biết toàn thể thâm sâu mà những kiến thức hiện có của người Phương Tây không đủ căn cơ để tiếp nhận đầy đủ. Chưa tiếp cận được khái niệm triết học thì còn rất xa người Phương Tây, khoa học hiện nay mới có thể vận dụng các quy luật sự sống và vũ trụ theo quan điểm Đông Phương vào đời sống và đó là điều đáng tiếc.

Dòng Mê Kông và những dòng sông khác trên hành tinh này cứ chảy mãi không nguôi với thời gian, mang những “kho báu” phù xa và tài sản vô hình “tri thức nhân loại tinh nguyên” dưới dạng các băng tần sóng điện trong mọi thời đại đến với các miền quê êm ả thanh bình. Nước sông là sữa Mẹ nuôi cho lúa trĩu bông, ngô đọng sữa và sức sống dâng trào Mẹ ban tặng cho con người, những đứa con yêu của Mẹ Đất. Chúng con đội ơn “hồn thiêng sông núi” để có chốn quang minh, để có ngày nụ cười nở trên môi nhân loại. Chúng con tự hào được uống sữa Mẹ “người đàn bà vũ trụ” thuở nào, nay đã 4 tỷ năm tuổi kể từ ngày Mẹ được “lập địa” khai sinh ra hành tinh xanh này. Trải qua bao thăng trầm biến đổi Mẹ vẫn còn đấy để ôm con vào lòng Mẹ, để dưỡng sinh đàn con và muôn loài cùng sinh sôi phát triển và tiến hóa.

Tri thức tinh nguyên của nhân loại không chỉ là những kiến thức khoa học công nghệ mà con người biết được ngày nay, mà còn là “bể kiến thức nhân loại” vô hình, “trường thông tin tổng hợp vũ trụ” mà các giống dân trước người hiện đại đã từng tạo lập vẫn còn đâu đấy ở quanh ta dưới dạng năng lượng ẩn tự nhiên. Đó dường như là nguồn tài nguyên tâm thức vĩ đại có ở trong ta. Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để tài nguyên này được biết đến và tỏa sáng trong mỗi chúng ta trước cuộc Đại tạo lần này? Bạn hãy tự học hỏi tiến hóa để khi tiềm năng con người trong ta tỏa sáng thì tự bạn sẽ có lời giải.

(Trích từ: Tình yêu cuộc sống - Mê Kông)
Nguồn: nangluongcuocsong.com.vn

Friday, December 7, 2012

CHUYỆN XÁC CHẾT BẬT QUAN TÀI TÌM ĐƯỜNG VỀ NHÀ Ở INDONESIA

 Hình ảnh những xác chết đột nhiên đứng dậy và thản nhiên đi lại bình thường trên đường để tìm về nhà của mình có thể khiến nhiều người phải rùng mình sợ hãi. Tuy nhiên, đối với những người Toraja ở Indonesia, việc làm cho những thây ma biết đi dường như là một nghi lễ lưu truyền nhiều đời trong cuộc sống tâm linh của họ.


“Ma thuật” có từ lâu đời

Toraja là nhóm dân tộc bản địa sống ở vùng núi cao phía nam tỉnh Sulawesi, Indonesia (từ “Toraja” có nghĩa là “những người ở vùng đất cao”). Từ nhiều năm về trước khi vùng đất người Toraja sinh sống còn bị cô lập và dường như tách biệt với thế giới bên ngoài thì những tin đồn về ma thuật thần kỳ, làm cho xác chết đi đứng bình thường đã được nhiều người trên thế giới biết tới.

Theo những người già nhất trong bộ tộc, việc làm cho thây ma biết đi có từ thời xa xưa. Vào thời ấy, một cuộc nội chiến đã xảy ra giữa những người Tana Toraja ở phía Tây và người Tana Toraja ở phía Đông.

Người Tana Toraja ở phía Tây đã bị thua thảm hại và bị giết chết gần hết. Trong khi đó, người Tana Toraja ở phía Đông bị thiệt mạng ít hơn và hầu hết các chiến binh đều mang được xác của những người tử nạn về làng để chôn cất.


Người Toraja đặt xác trên núi

Ngược lại, do không thể mang xác của những người xấu số về làng, người Tana Toraja ở phía Tây đã nghĩ ra một cách đặc biệt để chôn cất những người chết. Sau đó, họ dùng một phương thức thần bí nào đó làm các xác chết biết đi và tự tìm đường về làng của mình. Kể từ đó, người Tana Toraja vẫn giữ “ma thuật” này và cho đến nay các thầy phù thủy chỉ thực hiện khi có yêu cầu của người nhà người quá cố.

Nghệ thuật bảo quản xác chết hoàn hảo

Từ năm 1905, các nhà khoa học đã tìm thấy những xác người còn nguyên vẹn, không bị phân hủy ở vùng đất này. Điều đặc biệt là dường như những xác người này không hề được tẩm ướp bất cứ một loại hóa chất nào, khác hẳn với phương pháp ướp xác được biết đến của người Ai Cập cổ đại.

Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học vẫn nghi ngờ có một loại chất đặc biệt giúp bảo quản xác chết, nhưng cho đến nay họ vẫn chưa thể tìm ra câu trả lời.

Còn theo những người dân địa phương, cách thức chôn cất độc đáo của người Tana Toraja cùng với điều kiện thổ nhưỡng đặc biệt có thể là một trong những nguyên nhân quan trọng lý giải cho việc tại sao việc thây ma biết đi lại chỉ có duy nhất ở vùng Mamasa, Indonesia.


(Kinh quá! Thợ cạo phải thắp nhang thỉnh về mới cóp pết được tấm ảnh này sau 3 lần không hiện)

Khi một người trong làng qua đời, thi thể của họ sẽ được bọc bằng quần áo trước khi đặt vào quan tài. Sau đó, những người đàn ông sẽ khiêng chiếc quan tài ra nơi chôn cất của bộ lạc.

Điều đặc biệt là nghĩa địa của người Tana Toraja nằm cheo leo trên những vách núi đá vôi dựng đứng. Tại đây, người ta đục thành những ô vuông ăn sâu bên trong đá, đủ dài và rộng để vừa một chiếc quan tài.

Nhìn từ phía xa, những ngôi mộ nằm trong lòng núi trông giống những chiếc tổ chim bồ câu hay giống những ô cửa sổ của một khu nhà cao tầng. Chỉ những người đàn ông khỏe mạnh mới làm được công việc chôn cất vất vả này.

Ban đầu, họ dùng thang tre để bắc lên những khoang mộ trên vách núi và sau đó phải cần tới 4 đến 5 người mới có thể vận chuyển thi thể người quá cố lên vách núi thẳng đứng như tường trước khi đặt người chết vào nơi yên nghỉ cuối cùng.

Cũng dễ hiểu khi đến gần những ngôi mộ, người dân không hề thấy mùi hôi thối bởi những xác chết không bị phân hủy mà khô quắt lại, trông như một xác ướp. Nhiều xác chết bước ra khỏi quan tài sau nhiều năm vẫn còn lông mi, lông mày, tóc và khuôn mặt hầu như không bị biến dạng hay thay đổi nhiều.

Theo những người dân nơi đây, việc những xác chết có “chất lượng” tốt như vậy có thể là do trong đá vôi ở vùng này có một loại chất giúp bảo quản xác người. Thêm vào đó việc những thi thể nằm sâu trong vách núi tránh được tác động của thời tiết hoặc sự đào bới của các loại động vật cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến việc các thi thể được giữ nguyên vẹn. Bởi lẽ, một xác chết sẽ không thể đi lại bình thường nếu như xương bị rời rạc mỗi nơi một chiếc.

Hành trình về nhà của những xác chết

Theo niềm tin của người trong bộ tộc, người chết phải quay trở về ngôi làng nơi anh ta được sinh ra để gặp mặt những người thân. Điều này rất quan trọng bởi vì họ sẽ hướng dẫn những kỹ năng giúp người chết bước vào một cuộc sống mới ở thế giới bên kia.

Trước đây, nhiều người lo ngại quãng đường trở về nhà của những thây ma quá dài, và sợ rằng những thây ma này lại “chết” một lần nữa trên đường đi, nên họ thường thuê một thầy phù thủy đi đằng sau, nhằm giúp dẫn đường cho những thây ma này trở về nhà an toàn.


Xác ướp nguyên vẹn

Người chết phải tự thực hiện hành trình trở về nhà, bất chấp quãng đường đó xa hay gần. Sau khi được “làm phép”, xác chết có thể đi lại bình thường. Những thây ma di chuyển một cách cứng nhắc, trông giống như một rô-bốt và khuôn mặt dường như không biểu lộ bất cứ cảm xúc gì.

Nếu một ai đó nói chuyện trực tiếp với xác chết, xác chết sẽ ngã xuống và không thể tiếp tục cuộc hành trình trở về nhà nữa. Do đó, một điều nguy hiểm trong hành trình trở về nhà của các xác chết là gặp những người còn sống và bị họ bắt chuyện.

Để hạn chế rủi ro, các thầy phù thủy thường tìm những con đường vắng vẻ, gần như không có người qua lại để các xác chết có thể tự do đi lại mà không bị làm phiền.

Làm xác chết biết đi bằng cách nào?

Cho đến nay các nhà khoa học vẫn phải đau đầu đi tìm lời giải cho việc bằng cách nào mà phù thủy Toraja có thể khiến những xác chết đi lại và nhận biết được nhà của mình để trở về.

Câu trả lời được tạm cho là hợp lý nhất là việc các thầy phù thủy đã sử dụng một loại chất độc dạng bột nhằm đưa người chết sống trở lại trong trạng thái vô thức, trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo đó, loại bột này được cho là chất cực độc đối với người sống do được chiết xuất từ những loài động vật rất độc trong tự nhiên như cá nóc, bọ cạp, nhện độc… Những chất này cũng được cho là tồn tại ở da và nội tạng của con sa giông, cóc, kỳ nhông, bạch tuộc vòng xanh…

Tuy vậy, đối với người chết, nó lại có tác dụng chẳng khác nào thuốc thần giúp cải tử hoàn sinh. Khi chất bột này được “thổi” vào những xác chết, nó sẽ kích thích hệ thần kinh đã chết hoạt động trở lại một cách vô thức như một cái máy.


Xác chết biết đi
Thường thì loại thuốc này sẽ làm cho các thây ma sống lại trong khoảng 3 ngày, đủ thời gian để tìm đường về nhà. Nếu muốn các thây ma sống lại lâu hơn, các phù thủy phải pha chế thuốc với tỷ lệ và liều lượng khác.

Mặc dù vậy, nhiều người vẫn tỏ ra không thỏa mãn với câu trả lời trên và cho rằng việc làm những thây ma biết đi chỉ là một trò ma thuật tà đạo của các phù thủy.

Ngày nay, người Tana Toraja cũng hiếm khi được thấy những thây ma tìm đường về nhà. Người ta e ngại rằng, chẳng bao lâu nữa câu chuyện về những thây ma biết đi sẽ lại chỉ có trong phim ảnh hoặc tưởng tượng. Bởi, ngày càng có ít người biết “ma thuật” này và ít gia đình nào có thể chi trả được chi phí cắt cổ cho việc thuê thầy phù thủy.

Cho đến ngày nay, việc làm cho những xác chết biết đi vẫn là một bí ẩn làm đau đầu các nhà khoa học Indonesia và thế giới.

Thực hư của sự thật khó tin này ra sao, có lẽ chỉ những phù thủy người Tana Toraja mới có câu trả lời xác đáng nhất. Dù dùng ma thuật hay không thì đây vẫn là một nghi lễ tâm linh quý cần được cộng đồng người Tana Toraja và chính phủ Indonesia gìn giữ và bảo vệ.

Theo Báo Gia đình và Cuộc sống

Popular Posts