Showing posts with label CHÙA VIỆT. Show all posts
Showing posts with label CHÙA VIỆT. Show all posts

Friday, December 14, 2012

Có một chùa Hương trên đỉnh non Hồng - Tỉnh Hà Tỉnh

Hồng Lĩnh là thắng cảnh nổi tiếng ở Hà Tĩnh. Từ xưa, dãy núi 99 ngọn vút cao này đã được xếp vào trong 21 danh thắng của nước Nam. Ðặc biệt sự hiện hữu của chùa Hương Tích với nhiều kỳ quan liên kết đã xứng danh là "Hoan Châu đệ nhất danh lam".

"Phiên bản" chùa Hương
Chùa Hương Tích ở Hà Sơn Bình thật ra chỉ là một "phiên bản" đầy ý nghĩa của chùa Hương Tích trên núi Hồng Lĩnh thuộc xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Theo cuốn Hương Sơn thiên trù thiền phả, một vị hòa thượng được lệnh của chúa Trịnh (sau khi đi tuần thú) xác định địa điểm và cho xây dựng chùa Hương Tích ở Hà Sơn Bình từ đời Lê Huy Tông dưới niên hiệu Chính Hòa (1680-1904).
Trong khi theo sách Hương Sơn báu quyển, chùa Hương ở Hà Tĩnh là một động cao và khuất, thường có mây mù bao phủ. Chùa này được chính thức xây dựng từ đời Trần (có thể đồng thời với chùa Yên Tử).
Khi Trần Nhân Tông lên tu ở chùa Hoa Yên (Yên Tử), trại trạng nguyên Bạch Liêu, quê huyện Yên Thành (phủ Diễn Châu), cũng dời nhà vào chân núi Hồng Lĩnh cho tiện việc thắp hương ở chùa Hương Tích. Vậy vì sao lại có thêm một chùa Hương "phiên bản" ở phía Bắc?
Câu trả lời là vào thời Lê - Trịnh, các vua Lê - chúa Trịnh phần lớn có quê ở xứ Thanh (xem Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái) nên các phi tần, mỹ nữ đa số được chọn tuyển ở miền Hoan Châu. Hằng năm các cung phi, cung nữ Thanh - Nghệ thường trẩy hội chùa Hương trên núi Hồng Lĩnh vào ngày 18-2 âm lịch bằng đường thủy qua cửa Hội Thống (gần Cửa Lò bây giờ). Mỗi lần những "người đẹp" đi xa như vậy khiến chúa Trịnh rất phân vân (tuy đã bố trí lính vệ phục dịch dọc đường), do đó chúa Trịnh mới gọi một vị hòa thượng xác định địa điểm ở miền rừng núi Hà Sơn Bình để xây chùa Hương Tích thứ hai mà thờ vọng để các "người đẹp" đi trẩy hội gần hơn (theo dẫn giải của ông Bùi Văn Nguyên, nguyên tổng thư ký Hội Văn nghệ dân gian VN). Như vậy nhờ "sáng kiến" của chúa Trịnh mà nước ta có hai chùa Hương Tích.
Chùa Hương gốc
Nếu đường vào chùa Hương ở Hà Sơn Bình bắt đầu từ dòng suối Yến tấp nập những du thuyền thì lối vào chùa Hương ở Hà Tĩnh cũng từ mênh mông hồ nước nhà Ðờng (Ðường) theo dòng suối rộng có tên là suối Hương Tuyền đi ngược lên. Nhưng do nhiều năm trước trung tâm chùa Hương Tích mờ dần (ba lần chùa Hương này bị tàn phá bởi giặc Minh, thực dân Pháp và cháy rừng). Vì thế có nhiều khoảng thời gian chùa không, rừng quạnh bởi không có sư về trụ trì. Chùa Hương vắng bóng du khách, suối Hương Tuyền chỉ dành cho thuyền đi chở đá núi về kè đập, xây hồ. Nhưng từ năm 1990 trở lại đây cứ vào dịp 18-2 âm lịch hằng năm (đúng như lịch trẩy hội chùa Hương ở Hà Sơn Bình) có hàng ngàn du khách đủ mọi lứa tuổi, từng lớp từ Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng, Yên Bái, Ðà Nẵng... rẽ đường, vượt dốc núi dài gần tới 4.000m để tới chùa Hương.
Giống như chùa Hương ở Hà Sơn Bình, quần thể chùa Hương ở Hà Tĩnh gồm có thượng điền (chùa chính), đền Thiên Vương và am Thánh Mẫu. Ngoài ra chùa còn có những cảnh đẹp liên kết: động Tiên Nữ 36 cửa vào ra, am Phun Mây, suối Tiên tắm... và luôn tịnh yên giữa rì rào gió lá rừng trúc, rừng thông cùng tiếng thác đổ trầm đều từ bốn phía trên đỉnh núi. Chùa tĩnh nhưng mỗi năm cũng có hơn vạn người đến viếng. Ðông nhất là tháng giêng, hai và ngày rằm tháng bảy. Dịp đó dân nghèo xã Thiên Lộc mở quán dày đặc dọc lối lên phục vụ du khách. Năm 1990 chùa được Nhà nước cấp bằng di tích văn hóa - thắng cảnh.
TTđTD - Theo Tuổi trẻ chủ nhật

Wednesday, December 5, 2012

Đi chùa Nổi mùa nước nổi

 Chùa Nổi được xây dựng cách đây hơn 200 năm, trên một gò cao thuộc ấp Cả Bản, xã Tuyên Bình, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, thuộc vùng sâu của Đồng Tháp Mười. Chùa còn có tên gọi là Nổi Cổ Sơn Tự, chưa khi nào vắng khách dù ở tận vùng sâu giáp biên giới Campuchia.


Chùa Nổi, còn gọi là 'Nổi Cổ Sơn Tự'.

Người ta đến đây không chỉ để chiêm ngưỡng một ngôi chùa cổ có niên đại 'cổ lai hy' mà còn để tìm hiểu về ngôi chùa với kỳ tích được lưu truyền trong dân gian, qua bao mùa lũ đỉnh cao, chùa vẫn không bao giờ bị chìm chân dưới nước.


Chùa Nổi không lớn, kiến trúc đơn giản nhưng luôn đông khách thập phương vì nơi đây được xem là chốn thuần khiết cho đời sống tín ngưỡng, tâm linh và mang đậm nét văn hóa cổ xưa. Nhiều người đến nơi đây còn được nghe một câu nói vui: "Muốn nổi thì phải đi chùa Nổi vào mùa nước nổi". Bởi khi ấy giữa bốn bề là nước, chùa Nổi bật lên giữa những tán cây cổ thụ cao ngất, xanh rì. Muốn tới chùa, thì chỉ còn cách ngồi xuồng mà đi qua sông.


Một số tài liệu viết rằng chùa được xây dựng vào năm 1823, do thiền sư Thiện Nhiêu tạo dựng. Sư trụ trì hiện nay của chùa là sư thầy Thích An Phát cho biết: "Tính đến nay chùa đã tồn tại khoảng 250 năm. Tôi cũng không rõ chùa được dựng vào năm nào. Trải qua thời gian và hai cuộc chiến tranh ác liệt, chùa đã bị hư hỏng nặng. Ngôi chùa hiện tại được sửa chữa lại và xây dựng thêm vào năm 1985".

Cùng với chùa Gò Ô ở Hưng Điền A, chùa Nổi là một trong những di tích tại Long An mang đậm nét "Văn hóa Rạch Núi" của cộng đồng cư dân nông nghiệp lâu niên ở Nam bộ. Tại đây, năm 2002, những nhà khảo cổ đã thu nhặt được nhiều di vật liên quan đến kiến trúc cổ thuộc văn hóa Óc Eo như gạch xây dựng, diềm ngói, đầu ngói búp sen và nhiều mảnh gốm. 


Trong đó, có phần đế của một tượng Phật tham thiền bằng sa thạch, hình tròn, màu xanh lục, được phủ một lớp patine mỏng màu xám nâu, vốn rất quen thuộc trong nhiều di tích thuộc văn hóa Óc Eo.

Ngồi trên chuyến phà lộng gió băng ngang sông Vàm Cỏ Tây qua chùa Nổi mùa nước nổi, nhìn bông điên điển lốm đốm vàng dọc bờ sông, ai đó nghêu ngao câu hát quen thuộc: "Gió Tháp Mười đã thổi rất sâu... Bầu trời thì cao mà cánh đồng thì rộng. Mà anh đi đâu... về đâu...?".

Câu hát cứ như lời trách móc giữa "bến và bờ". Bởi chùa Nổi không chỉ là nơi đến cầu nguyện ơn trên mà còn là địa điểm để thề nguyền răng long đầu bạc.


Chùa Nổi xa xôi cách trở nhưng chưa bao giờ vắng khách phương xa. Người ta đến chùa Nổi không phải để muốn "nổi" như cách nói vừa đùa vừa thật mà còn là muốn chiêm ngưỡng một Cổ Sơn Tự (tên khác của chùa Nổi), uy nghiêm trên gò đất nhỏ ở vùng giáp ranh với đất bạn Campuchia; muốn hiểu thêm vì sao ở vùng rốn lũ của Tháp Mười, 300 năm trước, những người khai phá đã chọn nơi này để xây một ngôi chùa mà qua bao mùa lũ đỉnh cao, chùa vẫn không hề chìm chân dưới nước.

Đến chùa Nổi vào mùa nước nổi bao giờ cũng hấp dẫn hơn. Từ bến xe miền Tây, người ta mua vé thẳng về Mộc Hóa rồi bắt xe ôm đi đến bến phà chùa Nổi (giá xe ôm ban ngày 15.000đ, ban đêm 20.000đ).

Lênh đênh trên phà qua sông Vàm Cỏ Tây, bạn có thể cảm nhận không khí hào hùng từ thời Nguyễn Trung Trực vọng về. Nếu đến đúng dịp lễ chùa, bạn sẽ được "hậu liêu" Cổ Sơn Tự chiêu đãi miễn phí những món kèo nèo, rau hẹ nước, bông súng, bông điên điển chấm mắm tương kho, sau khi được đại sư trụ trì bốc cho một quẻ âm dương thường lành nhiều dữ ít. 


Chúng tôi hỏi sư thầy về câu chuyện dân gian tương truyền rằng, vào mùa nước lũ, cứ nước dâng đến đâu, ngôi chùa này lại nổi lên đến đó, không bao giờ ngập nước. Thầy Thích An Phát kể: "Tôi cũng không biết ngôi chùa này có nổi lên theo nước lũ hay không. Nhưng tôi đã tu tại chùa này khi còn là một thanh niên trẻ, tới nay đã gần 30 năm. Có những năm nước ròng lên đến đỉnh điểm, bốn bề trắng nước, thì ngôi chùa này vẫn không hề bị ngập. Khi ấy, nơi đây trở thành nơi chạy lũ của bà con quanh vùng".

Thầy trụ trì còn kể thêm một câu chuyện lưu truyền lại trong dân gian: 300 năm trước, nơi đây chỉ là một cái gò đất nổi lên giữa một bên là cánh đồng, một bên là dòng sông Vàm Cỏ Tây hoang vắng. Lũ trẻ chăn trâu thường chọn cái gò đất này làm nơi dừng chân, nô đùa cùng nhau. Chúng đào những chỗ đất ướt trên gò nhào nặn thành hình những ông tượng để chơi. Nhiều khi mải chơi quá mà bỏ quên cả bầy trâu.


Cha mẹ bọn trẻ giận quá mới đem những bức tượng đất quăng hết xuống sông Vàm Cỏ Tây. Nhưng có điều lạ là những tượng đất này không chìm mà nổi trên mặt nước. Dân làng thấy vậy cho đây là chốn lạ lùng, linh thiêng mới lập nên một ngôi chùa để quanh năm thờ phụng, cầu nguyện.

Ra đến cổng, chúng tôi gặp một ông lão dừng chân tránh nắng nơi bóng cây trước cổng chùa, tên Hai Chiến. Ông Chiến kể, ông sống ở vùng này đã hơn 60 năm. Năm nào vùng này cũng trắng xóa nước vào mùa nước nổi. Những năm gần đây, cuộc sống khá hơn, một số bà con đã có điều kiện nâng nền nhà mình lên cao hơn tránh lũ. Còn những năm trở về trước, mỗi khi lũ về gần như nhà nào cũng bị ngập, phải chạy lũ cực lắm. Bà con thường tìm đến chùa này xin tránh lũ. Thật kỳ lạ, ngôi chùa này nói là cao, nhưng cũng chẳng cao hơn xung quanh bao nhiêu. Vậy mà nước lũ có lên đến đâu cũng không bao giờ dâng được vào chùa".


Quan sát thì thấy, đúng là ngôi chùa này nằm trên một cái gò chỉ cao hơn so với xung quanh chút ít. Nhất là so với cây cầu treo chót vót, cao hơn mặt sông chừng 2- 3m, bắc ngang sông Vàm Cỏ Tây, thì đứng ở chùa chỉ có thể ngước mặt mà nhìn lên. Ấy vậy nhưng vào mùa nước nổi, người ta vẫn không qua sông bằng đường bộ được, mà chỉ có thể ngồi xuồng, ghe mà qua chùa. Bởi vì khi ấy, con đường dẫn vào chùa sát ven sông bị ngập nước không còn lối đi. Phải chăng, điều này mãi mãi là một sự huyền bí chưa có lời giải đáp của ngôi chùa nằm trên gò nổi thiêng của miền đất Phật độ?

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ PhattuVN, PhunuToday, internet
Nguồn: dulichgo.blogspot.com/

Friday, November 2, 2012

THIỀN VIỆN TRÚC LÂM ĐÀ LẠT

Cổng lên thiền viện
Thiền Viện Trúc Lâm là thiền viện thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử chi nhánh thành phố Đà Lạt. Thiền viện  thuộc phường 3, thành phố Đà Lạt, cách trung tâm thành phố 5 km, nằm trên núi Phụng Hoàng, phía trên Hồ Tuyền Lâm. Đây không chỉ là thiền viện lớn nhất Lâm Đồng mà còn là điểm tham quan hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước.


Chính điện thiền viện nhìn từ vườn hoa
Trên một khu đất rộng 25 ha, trong đó 2 ha xây dựng thiền viện và 23 ha vườn bao quanh. Thiền viện bắt đầu được xây dựng vào năm 1993, đến năm 1994 thì hoàn thành. Bản thiết kế do kiến trúc sư Vũ Xuân Hùng và Trần Đức Lộc vẽ và có sự tham gia thiết kế của kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Viết Thụ (người thiết kế Dinh Độc Lập - nay là Dinh Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh).
Tháp chuông
Thiền viện được chia ra làm 4 khu vực: khu vực ngoại viện, khu tịnh thất hoà thượng, hoà thượng viện trưởng, khu nội viện tăng và khu nội viện ni. Thiền viện do Hoà thượng Thích Thanh Từ thành lập. Đây chính nơi mà hoà thượng Thích Thanh Từ cư ngụ và tu hành.
Nhìn xuống hồ Tuyền Lâm
Thiền viện là một công trình kiến trúc độc đáo bên cạnh hồ Tuyền Lâm. Đi lên từ phía Hồ Tuyền Lâm là một con đường dốc có 140 bậc thang bằng đá, hai bên là những rặng thông cao vút dẫn qua 3 cổng tam quan để vào chính điện. Chính điện có diện tích 192 m2, bên trong thờ tự đơn giản, nhưng mang đầy ý nghĩa của nhà Phật. Giữa điện thờ tượng đức phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni cao khoảng 2m, tay phải cầm cành hoa sen đưa lên gọi là bức tượng Phật Thích Ca “Niêm Hoa Vi Tiếu”. Bên phải đức phật là Bồ Tát Văn Thù cưỡi sư tử. Bên trái là Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi trắng 6 ngà. Chung quanh phía trên chính điện là các bức phù điêu chạm khắc 8 tướng thị hiện của đức phật và các bao lam, án thờ bằng gỗ được chạm khắc rất công phu. Hành lang phía trước chính điện là hàng cột gồm bốn cột tròn giả gỗ. Trần được lợp bằng ngói tráng men sáng loáng, mái ngói uốn nhẹ toát lên nét khiêm cung của người Việt, nét thanh thoát của nhà thiền. Phía bên phải của chính điện là lầu chuông được chạm khắc phù điêu mang ý nghĩa sâu sắc của Phật giáo rất tinh xảo và đẹp mắt. Bên trong là quả đại hồng chung nặng khoảng 1,1 tấn, trên mình khắc chạm những bài kệ có ý nghĩa thanh thoát mang đầy đạo lý.
Từ trên chính điện nhìn xuống là hồ Tĩnh Tâm, phong cảnh ở đây rất đẹp, hồ nước trong xanh in bóng rặng thông bên đồi Thanh Lương. Bên dưới lưng chừng đồi, gần hồ Tĩnh Tâm là nhà khách 2 tầng nằm gọn trên một ngọn đồi có khu vườn xanh mát. Đây là nơi những phụ nữ đến xin tu tập ngắn hạn tại thiền viện. Phía trước nhà là rừng trúc xanh tươi. Đứng trước sân  có thể thấy đỉnh núi Voi Phục soi bóng xuống hồ Tuyền Lâm hùng vĩ.
Những lúc đông nhất, thiền viện có hàng ngàn tăng ni, phật tử đến học về thiền. Trúc Lâm là một thiền viện nghiên cứu về Thiền tông lớn nhất ở Việt Nam hiện nay với chủ trương khôi phục Thiền tông Việt Nam (có từ đời nhà Trần). Mỗi ngày, các tu sĩ ngồi thiền 3 thời trong ngày, mỗi thời 2 giờ đồng hồ và thời đầu tiên là từ lúc 3 giờ sáng. Chia làm 2 khu chính trong các hoạt động thiền. Nội viện tăng: Khu này nằm trong khu chính tham quan, du khách có thể tham quan, tuy nhiên, giờ thiền du khách không được phép vào. Nội viện ni: nằm tách biệt với bên ngoài, là khu dành cho nữ tu, nên du khách không thể tham quan khu vực này.
Điện Đạt Ma Sư Tổ nằm phía sau chánh điện bằng đá trắng khá thanh tịnh. Khu vực này du khách có thể tham quan. Phòng tiếp khách dành tiếp khách từ phương xa nên khá rộng lớn và trang trọng. Phòng phát hành kinh sách và ảnh lưu niệm của hoà thượng là nơi trưng bày ảnh Hòa thượng đi chu du trong nước và trên thế giới cùng với hiện vật cũng như quà tặng của tăng ni sư trong nước và thế giới dành cho ngài. Phòng phát hành kinh sách với các tác phẩm do chính  Hòa thượng viết và các ấn phẩm Phật Giáo khác.
Có thể nói vườn hoa của thiền viện là một trong những điểm du khách không thể bỏ qua và là vườn hoa hiếm hoi sưu tập nhiều loài hoa lạ. Các giống hoa được các tăng ni ươm trồng và có hẳn một vườn ươm và cây ghép. Các giống hoa được hoà thượng mang từ khắp nơi trên thế giới về ươm trồng. Nổi tiếng nhất là giống: sim tím, bông gòn Úc, phù dung, v.v...
Sảnh chính điện
Thiền viện được báo Sài Gòn Tiếp Thị trao giải “Điểm du lịch được hài lòng nhất" nhiều năm liền. Đây là nơi tu tập tốt nhất cho tăng ni phật tử và cũng là điểm tham quan lý tưởng của du khách mỗi khi ghé về Đà Lạt. Đến đây, quý khách sẽ có dịp để lắng đọng tâm mình...
Hoàng Lạc (tổng hợp)
Ảnh: sưu tầm Internet

Monday, October 29, 2012

ĐÀN NAM GIAO - Tâm Linh Việt

Đàn Nam Giao Huế
Đàn Nam Giao là nơi các vua Nguyễn tế trời.  Đàn Nam Giao được xây dựng vào năm 1806 thời Gia Long, ở phía Nam của kinh thành, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế. Đàn có diện tích 390m x 265m,  bao phủ bởi rừng thông xanh mướt được chăm sóc cẩn thận. Trước đó, vào năm 1803, nhà Nguyễn cũng cho đắp một đàn Nam Giao ở cánh đồng làng An Ninh, sau đó mới dời đến vị trí hiện nay.
 Đàn có 4 cửa ứng với 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc, ở mỗi của có một tấm bình phong lớn, xung quanh đàn có tường cao 1,5m bao bọc. Đàn gồm 3 tầng, xây chồng lên nhau, tượng trưng cho "tam tài": thiên, địa, nhân; xung quanh là các bó gạch xếp chắc chắn. Nền đàn có kích thước 340×265 mét. Tầng trên cùng, hình tròn – Viên Đàn – tượng trưng cho trời, xung quanh có lan can quét vôi màu xanh, đường kính 40,5 m cao 2,8 m. Trên nền Viên Đàn có lát những phiến đá Thanh được khoét lỗ tròn. Đến kỳ tế lễ, những lỗ này được dùng để cắm cột dựng lều vải màu xanh hình nón, gọi là Thanh Ốc. Tầng tiếp theo, hình vuông – Phương Đàn – tượng trưng cho đất, lan can quét vôi màu vàng, kích thước 83×83 m, cao 1 m. Khi tế, người ta dựng lều vải màu vàng, gọi là Hoàng Ốc. Tầng dưới cùng, hình vuông, lan can quét vôi màu đỏ, tượng trung cho con người, có kích thước 165x165 m, nền cao 0,85 m.


Điểm đặc biệt ở tầng trên cùng của đàn là hệ thống khuếch đại âm thanh, trung tâm đàn tế có lát những viên đá thanh với kỹ thuật đặc biệt, bất kỳ ai khi đứng ngay trung tâm nói thì trong phạm vi vài trăm mét vẫn nghe rõ mà không cần dùng bất kỳ vật gì hỗ trợ. Vào mỗi kỳ tế lễ, người ta thường dựng những ngôi nhà tương ứng với các màu trên để làm nơi dâng đồ cúng.

 Sổ tay du lịch so tay du lich Sotaydulich  Sotay Dulich Khampha Kham Pha Bui Ve voi Hue thuong ky 15 Dan  Nam Giao lieng thieng cung non song

Cả ba tầng đều trổ cửa và bậc cấp ở 4 mặt Đông, Tây, Nam, Bắc. Xung quanh ba tầng đàn này còn có các công trình như Trai Cung (dành cho vua vào nghỉ ngơi trai giới trước khi tế vài ngày), Thần Trù (nhà bếp, nơi chuẩn bị các con vật cúng tế), Thần Khố (kho chứa đồ dùng cho cuộc tế) và một số công trình phụ khác.
Theo quan niệm xưa "Vua là Thiên tử" (con trời) nên chỉ có vua mới được quyền cúng tế trời đất (cha mẹ của vua), cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tạ ơn trời đất. Lễ Tế Giao đầu tiên dưới thời Nguyễn được tổ chức năm 1807 và từ đó trở đi được tổ chức vào mùa xuân hàng năm cho đến thời Thành Thái, vào năm 1907, thì đổi lại 3 năm một lần. Chủ tế - nhà vua - và các quan phải trai giới 3 ngày trước khi tế. Dưới thời Bảo Đại, thời gian trai giới rút xuống còn 1 ngày. Vật tế được gọi là những "con sinh", đó là những con vật như trâu, heo, dê. Dọc đường từ Đại Nội đến Giao Đàn, nhân dân phải kết cổng chào, lập hương án đón đám rước nhà vua đi qua.

Sổ tay du lịch so tay du lich Sotaydulich  Sotay Dulich Khampha Kham Pha Bui Ve voi Hue thuong ky 15 Dan  Nam Giao lieng thieng cung non song

Ở một khu đất phía nam đàn có một khu vực đặc biệt là Trai cung, nơi vua ngự giá đến và ở lại đây trong 3 ngày trước khi tế lễ, ngoài ra xung quanh đàn còn có các công trình như: quan cư và bình xá – nơi ở của quan binh trong lúc tế lễ, thần trù – nhà bếp, thần khố - nhà kho, tế sở - nơi phục vụ cho việc tế tam sanh. Hiện nay, các công trình này đã thành phế tích chỉ còn Trai cung tương đối nguyên vẹn.

Sổ tay du lịch so tay du lich Sotaydulich  Sotay Dulich Khampha Kham Pha Bui Ve voi Hue thuong ky 15 Dan  Nam Giao lieng thieng cung non song

Lễ tế giao được tổ chức rất quy mô và hoành tráng, mỗi năm một lần, vua rời hoàng cung đến đây để tế cáo trời đất (đến triều Thành Thái do lễ tế quá sức tốn của nên định lệ 3 năm tổ chức 1 lần!). Trải qua dâu bể của thời gian, chiến tranh, sự vô ý thức của con người, Đàn trở nên hoang phế và bị trưng dụng với nhiều mục đích khác nhau. Mãi đến năm 1994, Đàn mới bắt đầu được trùng tu, sau nhiều năm trùng tu, đàn đã lấy lại dáng dấp xưa.


Sổ tay du lịch so tay du lich Sotaydulich  Sotay Dulich Khampha Kham Pha Bui Ve voi Hue thuong ky 15 Dan  Nam Giao lieng thieng cung non song

Đến với đàn Nam Giao ngày nay ta sẽ hòa mình vào thiên nhiên trong lành, chứng kiến một giao đàn từng có giá trị về mặt tâm linh rất lớn trong lòng người dân Huế xưa và tộc Việt thời nay. Trong tương lai không xa, chúng ta sẽ phục dựng lại lễ tế trời của các Vua - Quan - Dân thời xưa. Âu cũng là một cử chỉ cao đẹp nhớ về tổ tiên và bảo vệ di sản văn hoá!
(Tham quan Huế 01/10/2012)
Hoàng Lạc (tổng hợp)
Ảnh: Internet

Friday, October 26, 2012

Tính hòa đồng của những ngôi chùa cổ Việt Nam

Những ngôi chùa cổ Việt Nam đều có qui chuẩn vô cùng tinh tế, đó là tam giới giao hòa: mái tượng trưng cho tầng trời, với đất; thân là nơi thần và người tiếp cận, thông nhau, âm dương giao hòa.

Đạo Phật được nhân dân ta rất tôn trọng bởi sự gần gũi với tín ngưỡng cổ của người Việt: đạo Mẫu, bắt nguồn từ đời nguyên thuỷ từ mấy nghìn năm trở về trước. Chiêm bái những ngôi chùa cổ trên dải đất hình chữ S, ta đều thấy có sự tương đồng trong kiến trúc. Đó là qui mô không lớn, thấp thoáng bên những ngôi nhà bình dị, hiền lành của những người dân một nắng hai sương, là những ngôi chùa nhỏ, gần gũi nhưng nhưng trang nghiêm, thầm lặng tỏa ra sức mạnh vô hình của đạo Phật và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Có lẽ xuất phát từ Đạo Phật dạy con người đi tìm sự đơn sơ nhưng thuộc về bản chất tốt đẹp nhất của con người, giúp con người ta luôn hướng tới những giá trị tốt đẹp của Chân – Thiện – Mỹ với đức từ bi hỷ xả. Bước chân vào những ngôi chùa nhỏ, con người ta thấy như được hoà vào thiên nhiên, hoà vào vũ trụ, hoà với thế gian của bản thân họ và họ tự nguyện, tin tưởng, thành tâm hướng về chính đạo, chứ hoàn toàn không bị áp chế do một áp lực tinh thần nào. Sự vĩ đại của đạo Phật và người theo đạo là ở cái tâm thánh thiện chứ không phải hình thức. Cũng chính vì vậy đạo Phật có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống nhân dân, ngay những người không theo đạo Phật cũng có lệ ăn chay vào những ngày mồng một hay ngày rằm…
Phật giáo ngay từ khi xuât hiện tại Việt Nam đã được bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam. Bởi vậy Phật giáo đã cùng sinh tồn cùng dân tộc trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, nhiều triều đại, đạo Phật được coi là Quốc Đạo.


Những ngôi chùa cổ Việt Nam đều có qui chuẩn vô cùng tinh tế, đó là tam giới giao hòa: mái tượng trưng cho tầng trời, với đất; thân là nơi thần và người tiếp cận, thông nhau, âm dương giao hòa. Vì thế nền thường để đất mộc, hoặc có lát gạch với những mạch rộng hoặc dùng gạch bát thấm nước… rất gần gũi, không cao sang, nhưng thâm trầm, nghiêm cẩn.

Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là thờ thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, trong đó, Phật điện là nơi cao nhất. Bốn vị thần được thờ nhiều nhất là Tứ pháp: Mây-Mưa-Sấm-Chớp. Tuy nhiên bốn vị thần này đã được “Phật hóa”. Các pho tượng này thường được gọi tượng Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi và Phật Pháp Điện, trên thực tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩn của một pho tượng Phật. Nghĩa là đầy đủ 32 tướng tốt cùng 80 vẻ đẹp, mà một trong những nét tiêu biểu chính là tướng nhục kế và khuôn mặt đầy lòng từ mẫn… Các hệ thống thờ phụ này tổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa “tiền Phật, hậu thần” hay “tiền Phật, hậu Mẫu”. Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh, Mẫu, thành hoàng thổ địa, anh hùng dân tộc... vào thờ trong chùa. Đa số các chùa còn để cả bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất. Những điều đó hoàn toàn không mang tính mê tín dị đoan, mà phù hợp với truyền thống đạo đức của người Việt. Đạo Phật và ứng xử với đạo Phật của mỗi người đi vào được bản chất tốt đẹp sâu xa của đạo, của phần “người” hơn. Mỗi người đi hành hương, chiêm bái hay dự các lễ hội cũng là trở về với thiên nhiên và nguồn cội tâm linh.

Hiện nay do nhiều yếu tố, một số ngôi chùa được xây dựng với qui mô to lớn nhằm những mục đích nhất định, xa rời không gian văn hóa kiến trúc truyền thống. Chưa nói đến một số ngôi chùa người ta nhập vào nhiều thứ không phải Phật, mà nhiều khi gắn với mê tín dị đoan... Người ta đi đến những ngôi chùa đó như một địa điểm du lịch, để thỏa chí tò mò, để ngắm nhìn thán phục trước sự to lớn rất đời thường của công trình mang cái vỏ đạo Phật, để cầu lợi… Thực tế những kiến trúc được gọi là chùa đó đã vô hình bóp chết cái tâm trong sáng trong mỗi con người. Thậm chí qui mô to lớn, có phần thái quá của một số ngôi chùa hiện nay làm cho người ta cảm thấy nhỏ bé, choáng ngợp trước thiên nhiên, bị qui phục, chứ không xuất phát từ cái tâm trong sáng. Nếu những ngôi chùa cổ mang một vẻ đẹp văn hóa truyền thống của người Việt, thì những ngôi chùa đồ sộ kia chỉ thuần tính tôn giáo, xa rời với bản sắc văn hóa dân tộc.

Chính vì vậy, việc giữ gìn và bảo tồn những ngôi chùa cổ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi đó là tiếng nói của tổ tiên, là di sản văn hóa của dân tộc trên con đường phát triển. Đồng thời đã đến lúc cần có những qui định cho kiến trúc một ngôi chùa, dân tộc, hiên đại, phù hợp với đạo đức và tâm hồn người Việt trên con đường hội nhập và phát triển.

Trần Thi
Nguồn:.hoalinhthoai.com

Popular Posts